Sign up

CHIA VUI CÙNG NGÔ ĐÌNH MIÊN

 

CHIA VUI CÙNG NGÔ ĐÌNH MIÊN

 

Chiều 09/4/2011, trong một căn chòi lợp lá dừa nước trên bờ sông Cà Ty lộng gió của người bạn thân, mấy thằng bạn chí cốt của tôi từ ngày xửa ngày xưa gặp nhau. Chúng tôi có thời gian dài ngồi chung lớp tại trường Trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết. Năm 1972, chia tay lần thứ nhất sau khi đậu Tú tài I, gặp lúc đôn quân bắt lính cùng với “Mùa hè đỏ lửa”, cả lớp tan đàn xẻ nghé, đứa thì vào lính, đứa thì vào sư phạm, đứa thì trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt quân dịch… Tháng 5/1975, phân tán lần thứ hai, đứa thì đi kinh tế mới, đứa thì đi học tập cải tạo, đứa thì làm cán bộ, đứa thì vượt biển tìm đường trốn ra nước ngoài, trốn không được thì về làm ruộng hợp tác xã hoặc đi chăn bò, chăn vịt, chăn dê, đi phá rừng…

15 năm sau ngày thống nhất, lớp chúng tôi mới có dịp họp mặt lần đầu tiên, kiểm điểm “quân số”, thì có 5 thằng tha phương xứ người, 4 thằng đạp xích lô, 9 thằng làm ruộng, rẫy, 1 thằng chăn vịt, 2 thằng làm tài xế xe bò chở thuê, 1 thằng lái máy cày cho hợp tác xã (trước đây nó lái phản lực A37), 7 thằng làm thầy giáo, 3 thằng có công việc nhà nước ổn định theo nghề được đào tạo, 6 thằng làm đủ thứ việc để sống nhưng không có nghề nghiệp và… 8 thằng đã chết trận trước 1975. Muốn họp mặt lớp cũ, tôi phải đứng ra xin phép chính quyền và hứa bảo đảm không có nguy hại gì đến chế độ. Vì trong 46 thằng lớp tôi, chỉ có 7 thằng làm thầy giáo và 3 thằng làm cán bộ của chế độ mới, còn lại là sĩ quan chế độ cũ, nên, nếu không có phép tắc đàng hoàng mà họp mặt rất dễ bị chụp cho cái mũ “tập hợp lực lượng phản động”. Nói điều này, các bạn đừng cười. Tôi phải dựa hơi công thần vào thân thế gia đình mình: ông nội là liệt sĩ, ba tôi tham gia cách mạng từ 1931, cả nhà tôi có 5 anh em thoát ly theo kháng chiến, riêng tôi làm thầy giáo trong chế độ cũ. Đến thời điểm này, 1990, so với bạn bè trong lớp, tôi là thằng có chức quyền “to” nhất (ghê chưa!). Chừng đó cũng đủ che lưng và che cả đầu tôi rồi. Vì vậy, khi tôi đứng ra chịu trách nhiệm xin phép tổ chức buổi họp mặt đầu tiên, thì không có vấn đề gì trở ngại.

Từ năm 1991 về sau này, cứ vậy mà mần, lớp cứ họp mặt đều đặn hằng năm. Những thằng ở nước ngoài nghe tin họp mặt lớp, sướng quá, liền về tham gia. Kiểu cách họp mặt lớp của chúng tôi cũng không theo khuôn mẫu nào cả, các bạn cứ đăng cai xin được tổ chức tại nhà mình, có gì xài nấy, vậy là cứ lần lượt thực hiện trước sau theo danh sách đăng kí…
Hiện nay, tôi có một nhóm bạn chí cốt gồm chục đứa là những thằng cùng lớp hoặc liên lớp ngày xưa. Nhóm chí cốt này gần như là chỗ dựa tinh thần của mỗi thằng trong nhóm, vui- buồn- hiếu- hỉ đều chia sẻ với nhau. Do vậy, vừa rồi tôi có báo tin vui cho các bạn biết tôi vừa ra tập sách mới và rủ nhau lên quán bên bờ sông của thằng bạn uống mừng. Mặc dù các bạn tôi không có ai là dân viết lách, nhưng lại rất yêu văn nghệ. Tôi hơi bất ngờ, vì thằng bạn chủ quán chuẩn bị khá tươm tất, có lẳng hoa, có chụp hình chụp ảnh nữa. Nhờ vậy mà việc tôi tặng sách cho bạn cũng được lưu giữ lại bằng hình ảnh. Vui!

alt

Tập sách mới là một tập bút ký dày 260 trang, gồm 16 bút ký, do nhà xuất bản Văn học xuất bản. Những bút ký này là những hồi ức, là tình cảm của tôi với quê hương, với bạn bè và một chút “góp nhặt cát đá” trong cuộc đời. Chính vì vậy, những người đầu tiên (sau gia đình) tôi muốn tặng tập bút ký này, chính là những người bạn chí cốt của tôi, đã sống cùng với tôi chung một không gian và thời gian khó phai mờ nhất trong kí ức, đó là là thời hoa niên của chúng tôi.
Ngô Đình Miên xin đưa lên một vài hình ảnh và trích đăng lại một bút ký ngắn viết về ngày còn học chung với nhau tại trường Trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết, để mọi người cùng chia vui với tác giả.

alt

 

GIỌT NƯỚC MẮT HẠNH PHÚC


* Tưởng nhớ thầy Trương Văn Chung và thương tặng bạn bè học chung trường Phan Bội Châu (Phan Thiết)

Trường Trung học Phan Bội Châu- Phan Thiết, mùa xuân năm 1972.
Đang ngồi theo từng nhóm trên đám cỏ trước dãy phòng học của liên lớp 11, đột ngột các bạn ở lớp 11A đứng lên. Có phải họ định rời bỏ cuộc đấu tranh từ sáng đến giờ của cả trường chăng?
Chuyện xảy ra đúng vào buổi sáng ngày 06 tháng 02 âm lịch, ngày Hai Bà Trưng trầm mình tuẫn tiết 1929 năm trước. Trường Trung học Phan Bội Châu tổ chức lễ kỉ niệm về cái chết liệt oanh của Hai Bà. Tất cả học sinh của các lớp trung học đệ nhị cấp (gồm các lớp 10, 11 và 12) tập trung nơi sân chính của trường, dưới những tàn cây sầu chiều cổ thụ. Học sinh trung học đệ nhất cấp (gồm các lớp 6,7, 8 và 9) học buổi chiều, nên không dự lễ. Lớp 11B2 toàn là “đực rựa” của chúng tôi đứng xếp hàng đúng nơi quy định; nhưng hàng ngũ thì xộc xệch, nói cười ầm ĩ. Anh Hai “Gồ” lớp trưởng (vì anh to con nhất trường nên có biệt danh là Gồ) năn nỉ các bạn cùng lớp im lặng để chuẩn bị chào cờ, trước khi thầy hiệu trưởng đọc đít-cua lễ kỉ niệm, nhưng cả lớp vẫn chưa chịu im lặng. Đến khi thầy Chung, giám thị liên lớp 11, mà bọn học trò chúng tôi “tiếp vĩ ngữ” vào tên thầy biệt hiệu “Ù” (vì bụng của thầy to quá cỡ), nhỏ nhẹ khuyên cả lớp nên nghe lời lớp trưởng, chúng tôi mới tỏ ra nghiêm trang để chào cờ. Nhưng chỉ một lúc sau, khi lễ chào cờ xong, thầy hiệu trưởng đang đọc diễn văn, thì bỗng dưng một nhóm học sinh trong lớp cười rộ lên như bị ai thọt lét. Từ chỗ lớp chúng tôi xếp hàng tới bục thầy hiệu trưởng cách một quãng khá xa, khoảng hai trăm mét, nhưng ông vẫn nghe rõ tiếng cười, nên giọng ông hơi khựng lại. Ngay sau đó, ông cho mời thầy Chung Ù lên văn phòng “có việc gấp”. Lúc này, cả lớp chúng tôi im phăng phắc, vì lo cho thầy giám thị sẽ bị quở trách. Học sinh liên lớp chúng tôi rất thương thầy, vì ông đã già lại rất hiền. Thầy thường trò chuyện với chúng tôi thân tình như đối với con cháu và lúc nào ông cũng cười khà khà, tay đưa lên vuốt cái trán hói sọi tận đỉnh đầu, chỉ còn sót lại vài sợi tóc sau gáy trắng như cước. 

 
Đúng như chúng tôi dự đoán, vừa tan buổi lễ, các lớp chưa kịp về phòng học, thì thầy Chung đi tới chỗ lớp chúng tôi. Thầy khóc. Nước mắt lăn dài trên hai gò má lốm đốm đồi mồi. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy một ông già khóc, mà ông già đó lại là một ông thầy. Thầy kể lại cho cả lớp nghe, ông hiệu trưởng chửi thầy là “đồ con bò ngu dốt, ngay cả việc giữ trật tự cho mấy lớp học để chào cờ mà cũng không làm được, thì về chăn bò đi!”. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy như vẫn còn hiển hiện cảm giác tức giận của chúng tôi lúc đó. Có lẽ chúng tôi đã rất ân hận về hành động vô ý thức của mình, đã làm cho một người thầy giáo già đáng kính trọng như thầy Chung bị ông Hiệu trưởng trẻ tuổi mắng chửi một cách vô văn hoá như thế. Vậy là chúng tôi, không ai nói ai, tay nắm tay xiết chặt đứng chung quanh thầy Chung và đồng thanh hô to: “Chúng em yêu cầu thầy hiệu trưởng xin lỗi thầy Chung!” Hình như lúc đó, chúng tôi bị kích động tột cùng. Nó đã tạo nên sức mạnh khôn lường; ví như một ngọn thác đang đổ ào xuống, cần phải được trút vào đâu đó và việc sẽ sử dụng nguồn sức mạnh không thể kiểm soát này ra sao, hậu quả thế nào, thì không ai trong chúng tôi có thể lường trước được. Tuy rằng chúng tôi biết rõ mục đích hành động của mình, nhưng về phương pháp hành động thì hoàn toàn bộc phát một cách tự do; sự việc diễn tiến đến đâu hay đến đấy. Một cuộc đấu tranh không có người cầm đầu. Thời thế lúc đó ở miền Nam, phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh các đô thị lớn đã trải qua nhiều cao trào và hầu như đều có sự lãnh đạo của “Việt Cộng”. Nhưng riêng cuộc đấu tranh của học sinh Phan Bội Châu nổ ra vào ngày hôm ấy hoàn toàn là phản ứng đồng loạt tự nhiên của tất cả học sinh, xuất phát từ lương tâm trong sáng của học trò, từ sự yêu kính thầy cô bị xúc phạm một cách nặng nề mà thôi. Hơn nữa, người thầy bị xúc phạm đó lại chính là ông thầy già mà chúng tôi gần gũi, thương yêu như cha chú của mình. Nói thật lòng, hầu như bọn đồng lứa học sinh chúng tôi lúc ấy có ít cảm tình với ông hiệu trưởng. Vì ông là một người lạnh lùng, tác phong quan cách, luôn tỏ thái độ bề trên, kể cả đối với giáo viên trong trường, rất hiếm khi thấy ông có cử chỉ, hành vi biểu hiện tình thương đối với học trò.

Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, bất kì một cuộc đấu tranh chính nghĩa nào, dù lớn hay nhỏ, luôn luôn xuất hiện những người sẵn sàng hy sinh thân mình vì nghĩa cả một cách vô tư, nhưng đồng thời cũng có những kẻ “tự bôi một chút bùn lên mặt mình để chia phần cá của những người tát ao”, thậm chí phần cá của họ còn nhiều hơn. Cuộc đấu tranh ngày hôm ấy cũng vậy. Sau này, có những người chẳng hề dính dáng chút gì tới chuyện này, đã cao giọng nhân danh tổ chức này, lực lượng kia (tác giả nhấn mạnh), tự nhận mình có tham gia tích cực, thậm chí còn có người nhận mình đóng vai trò nòng cốt hoặc mạnh dạn tuyên bố “do tôi lãnh đạo”…

Cả lớp chúng tôi quay về phòng học, cùng bàn bạc với nhau và đi đến quyết định là lớp 11B2 sẽ không vào lớp học nữa mà chia nhau đi vận động các lớp khác đang học buổi sáng hôm ấy để cùng nhau bãi khóa tập thể và đưa ra yêu sách duy nhất là thầy hiệu trưởng Nguyễn Thanh Tùng phải xin lỗi công khai thầy giám thị Trương Văn Chung về lời nói xúc phạm vừa rồi. Mọi việc diễn ra rất nhanh, không gì có thể kềm chế được. Hầu như tất cả học sinh các lớp 10 và 11 đều có cùng chung suy nghĩ như lớp chúng tôi nên kết quả là cả hai liên lớp 10 và 11 nhanh chóng thống nhất hành động. Riêng liên lớp 12 là không một ai bước ra khỏi phòng học. Cho đến bây giờ, tôi cũng không rõ lí do vì sao các lớp 12 đứng ra một bên, không tham gia buổi đấu tranh hôm ấy. Có phải các bạn ấy sợ ảnh hưởng đến việc thi tú tài II chăng? Nếu như vậy, chẳng lẽ liên 11 chúng tôi không sợ ảnh hưởng đến việc thi tú tài I sao? Vả lại, đây là thời điểm hết sức quan trọng đối với tất cả chúng tôi; vì chỉ còn vài tháng nữa là đến kì thi tú tài I và tú tài II, nếu thi rớt mà không có lí do đặc biệt nào để được hoãn quân dịch thì chỉ còn con đường duy nhất là cầm súng ra mặt trận, ở chiến tuyến bên này hoặc bên kia mà thôi… 
Các lớp 10 và 11 khiêng bàn ra hành lang, kê cao lên và xoay mặt bàn hướng ra phía trước, rồi lấy phấn trắng tô đậm hàng chữ khẩu hiệu đấu tranh trên mặt bàn. Tôi còn nhớ rõ chỉ có hai khẩu hiệu rất đơn giản, nhưng rõ ràng, mạnh mẽ, quyết liệt. Một là câu “Tiên học lễ, hậu học văn”; hai là câu “Yêu cầu thầy Tùng xin lỗi thầy Chung”. Nội dung các câu khẩu hiệu đã xác định rõ nguyên nhân và mục đích của cuộc đấu tranh chỉ là vì “lễ”. Cảnh sát dã chiến và quân cảnh đến rất nhanh. Họ bít hết tất cả các đường ra vào trường. Chúng tôi tụ thành từng nhóm, thỉnh thoảng hô khẩu hiệu hoặc hát vang những bài du ca và phản chiến. Thầy Chung đã ra về từ sớm, vì sợ bị vu là kích động học sinh biểu tình. Đến trưa, hiệu trưởng Tùng vẫn gan lì không chịu nói lời xin lỗi. 
Cổng trường vẫn đóng chặt, cảnh sát và quân cảnh cầm súng đi đi lại lại phía ngoài. Đã trưa lắm rồi, bụng của chúng tôi sôi ùng ục vì đói. Khát thì không lo, có sẵn nước phông tên uống tạm cũng được. Nhưng không khéo phải bỏ dỡ cuộc đấu tranh vì đói mất. Phải tìm cách chống đói thôi. Hình như bên dãy lớp 11A đã có cách xử lí tình huống. Trong các lớp 11A có hai nữ sinh là con quan chức đầu tỉnh, đáng chú ý là M.L., con gái cưng của tỉnh trưởng. Thì ra, vừa rồi các bạn lớp 11A đứng lên là để tiễn hai bạn ấy tình nguyện đi mua thức ăn và nước uống nhằm duy trì cuộc đấu tranh đến thắng lợi. Cảnh sát và quân cảnh dạt ra hai bên tránh đường cho hai “tiểu thư” đi chiếc xe máy PC ra khỏi cổng. Gần một giờ đồng hồ sau, một chiếc xe Jeep lùn quân sự dừng lại ở cổng trường. Hai bạn cùng người lính lái xe mang các bao cước căng phồng vào sân. Chúng tôi ùa ra phụ khiêng vào. Hai bạn đã tiếp tế cho mỗi người được một nửa ổ bánh mì không thịt, chả, nhưng chúng tôi vẫn “thổi kèn” chay một cách ngon lành. Vậy là có thể đủ sức cầm cự tới chiều được rồi. Cuộc đấu tranh này kết cuộc có thắng lợi hay không thì chưa biết, nhưng công của hai bạn nữ trên là rất lớn. Nếu không có bánh mì, cuộc đấu tranh có thể sẽ thất bại, vì… đói.
Buổi chiều, bắt đầu sang ca học của các lớp đệ nhất cấp. Các em vào trường, bất ngờ trước quang cảnh lạ lẫm chưa từng thấy bao giờ, lao nhao lên không biết nên có thái độ như thế nào cho phù hợp. Tiếng loa phóng thanh phát giọng nói của tổng giám thị Phan Xuân Tự kêu gọi tất cả học sinh học xuất sáng ra về để các em học sinh các lớp đệ nhất cấp vào lớp học (vì một phòng học được sử dụng cho hai ca học sáng chiều). Chúng tôi liền tranh thủ giải thích tình hình và kêu gọi các em tham gia đấu tranh. Các em đồng tình hưởng ứng ngay. Tôi biết nhiều em hưởng ứng bãi khoá, đơn giản chỉ vì muốn chiều nay khỏi phải học là chính. Các lớp đệ nhất cấp bắt chước các lớp đàn anh dựng bàn viết khẩu hiệu. Nội dung khẩu hiệu chứng tỏ các em rất thông minh. Các lớp đều viết giống nhau câu: “Chúng em hoàn toàn ủng hộ các anh!” Vậy là toàn trường đã bãi khóa để tiếp tục đấu tranh.

Cuối cùng sức mạnh của lẽ phải, của sự đoàn kết, sự đồng lòng và của những ổ bánh mì chay… đã giúp chúng tôi chiến thắng một cách oanh liệt. Khoảng 3 giờ chiều ngày hôm ấy, hiệu trưởng Tùng cho mời thầy Chung lên văn phòng để xin lỗi và công khai thông báo cho toàn trường. Cả lũ học trò lớn bé chúng tôi hoan hô vang trời. Mũ nón, giầy, dép, sách vở đều được tung lên cao. Chúng tôi ôm nhau nhảy múa mừng chiến thắng. Khi tất cả học sinh đấu tranh ra về, lính quân cảnh và cảnh sát dã chiến đứng trước cổng trường còn cười với chúng tôi. Có lẽ những anh lính này cũng hiểu chúng tôi đấu tranh cho lẽ phải, cho đạo lí làm người, nhưng chỉ dám biểu lộ sự đồng tình khi cuộc đấu tranh chấm dứt mà không gây hậu quả gì nghiêm trọng.
Sáng hôm sau, chúng tôi đến trường học bình thường. Thầy Chung “Ù” tới lớp gặp chúng tôi và… ông lại khóc. Tất cả chúng tôi đều ứa nước mắt. Ôi, những giọt nước mắt hạnh phúc tuyệt vời đó, làm sao chúng tôi có thể quên được trong cuộc đời của mỗi người. Có thể trên nhiều ngả đường khác nhau, đâu đó, có những vấp ngã đớn đau hay lúc tuyệt vọng, chúng tôi lại nhớ về những giọt nước mắt trong suốt tình người ấy, mà gượng đứng lên, đi tới. Trong tim chúng tôi vẫn có niềm tin rằng, giữa cuộc đời dẫu còn nhiều bất công, cái ác còn hoành hành, nhưng đạo lí làm người, tình người với người vẫn tồn tại như một dòng chảy thiên thu bất tận…

 

*   *   *

Comments (8) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 04/10,2011 Edit    Bản inBản in

TƯỞNG NHỚ PHẠM CÔNG THIỆN

Thời còn là học sinh trung học, Phạm Công Thiện là thần tượng của chúng tôi. Mặc dù đọc Pham Công Thiện, cả trước tác và dịch là không dễ chút nào đối với cái tuổi và tầm của chúng tôi lúc đó. Nhưng... thần tượng cứ là thần tượng! Biết tin Phạm Công Thiện mất ngày 8/3/2011, tôi chưa dám viết gì, thì vừa hay nhà thơ Trần Vấn Lệ gởi qua e-mail cho tôi bài thơ của anh viết tưởng nhớ bạn, nên tôi đưa liền lên trang kèm theo một bài viết ngắn của Phạm Công Thiện, như một cây nhang thắp cho triết gia- nhà văn- thi sĩ Phạm Công Thiện.

alt

 

Phạm Công Thiện

Hơi thở là con bướm trắng tung tăng trên cỏ...

 

Mỗi lúc quên hết sáng tác và sáng tạo thì sáng tác và sáng tạo lại hiện đến. Không cần tìm cảm hứng thì lúc nào cảm hứng cũng xuất hiện, mỗi lúc quên mình và viết và vẽ và sống. Càng sáng tác thì càng xa lìa đời sống thường nhật, nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu. Càng tiếp tục đi sâu vào chu kỳ bí ẩn của sáng tạo thì lại càng trở về khám phá lại đời sống thường nhật, càng yêu đời, tha thiết với cuộc đời tầm thường, tha thiết với cái chết tầm thường, ngay đến tất cả lo âu sợ hãi cũng trở thành thơ mộng cần thiết. Những cử chỉ nhỏ nhặt nhất của đời sống mỗi ngày biến chuyển thành ra phép lạ tuyệt vời.

Thực ra, chỉ là gọi ép, chứ không có gì là sáng tác, sáng tạo hay cảm hứng. Mình không bao giờ là tác giả; mình chỉ thụ động mở lòng ra phơi phới để đón nhận những quà tặng của thần linh; thần linh có hay không có, chẳng đáng bận tâm.Thần linh là tất cả những gì xa lạ, vượt qua mình; những gì vượt qua mình và không phải thuộc về mình mới đích thực là mình. Càng cố gắng giữ lại thì càng mất; càng muốn đi tới một cái gì thì càng không tới cái gì cả. Càng chán đời thì càng yêu đời; càng yêu đời thì càng cảm tạ cuộc đời và cảm tạ nỗi chết. Mỗi lần tâm thức được chuyển hoá trọn vẹn thì tất cả nghịch cảnh khó khăn nhất đều là thuận cảnh đầy thần linh di động. Nó đang mở lòng phơi phới với gió, chim, đất, trời, chiêm bao và thực tại. Tất cả mọi sự đều có ý nghĩa, nếu mình không còn muốn gì nữa. Chỉ một ý tưởng thoáng qua cũng đủ đóng khép lại cả một thế giới, và một thế giới khác được mở ra huy hoàng với một ý tưởng sáng rực. Phải thường trực lưu ý rằng tâm thức mình trống trải và trống rỗng, vừa trống rỗng vừa sáng rực. Sự rực ngời của tâm thức là điều không thể tránh được; trong đêm tối hoang vu nhất của đời người vẫn rực sáng tâm thức bất động, tâm thức thuỷ tinh, tâm thức lưu ly. Tâm thức không là cái gì cả; đó là sức mạnh khủng khiếp của tâm thức. Tâm thức là hư vô mà không phải hư vô, hư không mà không phải hư không. Những lúc mình mất đất đứng và mất hết tất cả thì hư vô lộng hành. Sống với hư vô là điều kiện tối thiểu để chợt nhận ra rằng tất cả mọi sự đều thơ mộng và cần thiết. Chỗ đi tới của cuộc hành trình vô tận là mỗi bước chân; chuẩn bị lên đường là đã lên đường; chưa lên đường là đã lên đường. Phát bồ đề tâm là đã thực hiện bồ đề tâm. Thực sự muốn thành Phật thì tức nhiên đã thành Phật rồi; trong đời sống, rất ít ai thực sự muốn cho đúng nghĩa. Chỉ thực sự muốn cho đúng nghĩa là lúc nào tâm thức hoàn toàn trống rỗng và rực sáng; lúc ấy, đạt tới ý muốn hay không đạt được ý muốn bỗng trở thành phù phiếm, vì chính tâm thức cũng là phù phiếm, mộng, huyễn, dương diệm, ảnh, hoá... Bầy quạ đen bay vụt từ tâm thức. Tâm thức là hơi thở di động; hư vô đang thở trên trang giấy. Nó ngồi viết, không cố gắng, không mục đích, không ý nghĩa. Nó không đi tìm hạnh phúc. Nó đang ngồi thở thanh bình, thở im lặng, thở gió, thở trái đất. Hơi thở không thuộc về ai cả. Hơi thở là con bướm trắng tung tăng trên cỏ...

*


Trần Vấn Lệ

Vĩnh Biệt Phạm Công Thiện

Mày hơn tao một tuổi mà mày đã “xong” rồi!..Chết mà được, hỡi ơi, đời không buồn thêm nữa!
Hôm qua không mưa gió. Mày đi. Đi thản nhiên. Mày chắc nhớ chưa quên cái thời trên Đà Lạt…
7, Trần Bình Trọng, cỏ rạp mày đi qua, đi qua. Ở đó, Hoàng Vĩnh Lộc, ở đó, Bùi Giáng, sống chưa hết tuổi già…
Con Mộng Ngân hít hà: “Ôi mấy cha nội đó, nhiều khi như mưa gió, ồn muốn nát nhà tôi”.
Tao cũng đó một thời, khi mày về Yagut, số 12 dưới hụp, một phòng đầy văn chương…
Mày bỏ xuống Nha Trang, mày đi tu đạo Phật, mày là người giỏi nhất: thuộc bảy hai vạn Kinh!
Nhiều năm tao hỏi mình: Phạm Công Thiện đâu nhỉ? Ông Giáo Sư Lê Phỉ, nói: “Nó đã về Trời”.
Hồi đó, mày, mày ơi, mày sống mà, chưa chết, Con Rắn còn bò miết trên Đồi Cù đấy thôi!
Tao giận mày một thời, tu chi hai đường Đạo – con đường nào Sáng Tạo Con Rắn Cho Trần Gian?
Mày không ở Tiền Giang, tỉnh mày viết Ý Thức. Mày làm ong hút mật trường Vạn Hạnh lêu nghêu…

Thiện ơi có một chiều, mình gặp nhau ở Mỹ. Mày nhìn tao hỏi khẽ: “Đà Lạt giờ vui không?”.
Hăm mốt năm trôi sông, bây giờ thì mày chết. Bảy mươi mốt tuổi, mệt, Thôi, mày đi bình an!
Đà Lạt mình vội vàng sống một thời tạm bợ. Nước Mỹ không muôn thuở… mà mày đành Thiên Thu!

*

Phạm Công Thiện, tuổi Con Rắn, 1941, sinh tại Định Tường (sau 4-1975 gọi là Tiền Giang). Tôi quen PCT đầu thập niên 1960, lúc đó PCT dạy tại trường Việt Anh 2 Hải Thượng Đà Lạt, GS Lê Phỉ Hiệu Trưởng. PCT từng trọ tại 7 Trần Bình Trọng, chủ nhà là cô Mộng Ngân con gái Đại Úy Quý tử trận tại Đơn Dương, nơi đạo diễn ciné Hoàng Vĩnh Lộc, thi sĩ Bùi Giáng cũng có thuê phòng trọ. PCT có thời ở tại 12 Yagut, phòng sous sol. Năm 1967, PCT về Nha Trang đi tu đạo Phật, sau đó về dạy tại Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Chúng tôi, PCT và tôi, gặp nhau lại, tình cờ, ở Nam California, năm 1990, tại nhà bà Tưởng Thị Kim Xuyến, lần duy nhất, và bây giờ tôi nghe tin PCT mất tại Houston, 8 tháng 3 năm 2011.
PCT là người “tự tin”, rất “tự hào” mình…là Con Rắn!

Trần Vấn Lệ

* * *


Comments (3) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 03/12,2011 Edit    Bản inBản in

7 BÔNG HỒNG

 

Nhân ngày 8.3, chúc phụ nữ toàn thế giới luôn Hạnh Phúc!

 

alt

 

BẢY BÔNG HỒNG

 

Nghe chuyện cổ tích có tiên ông
Sống với tiên bà không sợ già

Người tiên thượng giới lòng trẻ mãi 
Ngàn năm ngàn năm nữa yêu thương
Mỗi ngàn năm thay một xiêm y mới
Kết bằng hoa lá của Eden
Mỗi ngàn năm Thượng đế dặn tiên ông
Nhổ trên đầu mình một ngàn tóc bạc
Kết thành đoá hồng trắng dâng tặng tiên bà
Mỗi bông hồng làm trẻ lại một ngàn năm

Sáng nay, tháng ba ngày tám
Tiên bà khoe với tiên ông:
"Mình mới có bảy bông hồng"!

Tiên ông già tóc bạc
Tiên bà trẻ tóc xanh
Triệu năm mây cứ trắng
Tỉ năm trời vẫn xanh…

 

alt

 

 

 

Comments (8) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 03/07,2011 Edit    Bản inBản in

CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ (V)

 

 

CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ
(V)

Hai Gồ vừa xuống xe, nghe mấy bà bán hàng thúng bánh trái ở bến xe Cà Mau ca ngợi hết lời một người tên “Chị Hai” về tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ phụ nữ bị chồng hắt hủi, thấy hay hay, không biết “hiệp sĩ bà bà” nào trùng thứ với vợ mình, định bụng về tới nhà sẽ hỏi chị Hai cho rõ. 
Tới nhà, không thấy chị Hai, chỉ có con Ba em vợ ở nhà. Nhỏ con gái nhà anh chạy ra mừng ba quấn quíu, nói ngọng nghịu:
- Ba… ba… ba ơi…
Bắt cười con nhỏ, chỉ nói được bi nhiêu đó rồi cười lòi hai hàm răng sún trống hoác để gió chạy zô bụng ào ào, hổng biết nói gì nữa hết trơn, anh Hai chỉ sợ con nhỏ đau bụng. Cha con ôm nhau chảy nước mắt. Thương cho tình cha con cách biệt tháng trời, giờ mới gặp lại. Nếu có tui ở đó chắc khóc theo quá.
Con nhỏ vừa bình tình trở lại, la lớn:
- Sao quần áo ba thúi quá zậy?
Lúc này, anh Hai mới sực nhớ mình bận bồ đồ cả tháng không thay, hổng biết cái lần mình tắm rửa gần đây nhứt là bao lâu. Hi, nhớ vợ chạy lẹ về Cà Mau, quên cả chuyện thúi thơm. Hai Gồ cười một mình rồi ra sông, cái dáng gù gù với bước đi chậm rãi in bóng lên lưng trời lừng lững. Hai Gồ để nguyên cả quần áo nhảy ùm xuống sông phía trước nhà, vừa tắm mình mẩy vừa giặt luôn quần áo. Hai Gồ vừa tắm vừa nhớ tới cái khuôn mặt bầu bầu, nước da mướt rượt, mềm nhũn dướn bàn tay thô ráp sần sùi như vỏ cây ngủ chiều của mình, Hai Gồ lẩm bẩm “tối nay, tối nay”. Hi hi!

Rồi tới tối nay, chập tối thui, lên đèn đường chị Hai mới về tới nhà. Gặp anh Hai, hổng biết bụng dạ chị Hai làm sao mà không thấy chị rối rít ngọng nghịu như con gái chị khi gặp ba, mà chỉ nghe chị Hai tĩnh rụi hỏi đúng hai câu trống không với anh Hai:
- Mít nghệ ngon lắm hả, ăn hết chưa, có chột ruột hông?
- Thịt với “gụ” hùn zô nhậu đã hông?
Anh Hai ngó trân vợ, như không nghe chị Hai hỏi cái gì hết. Ừa, đúng là cái mặt tròn quảo này, cái eo lưng đầy đầy chắc nụi êm êm như cái bao bột nè, cái bàn “tạ” tròn ủm như cái mủng gieo(1) nè, cái giọng nói nghe tưởng như trống không nhưng lại bùi ngùi chùi nước mắt, lọt zô tai chạy xuống dưới thủng tim Hai Gồ luôn nè! Ui, tối rồi…
- Có đoàn cải lương “Sống Giang” zề hát ngoài chợ, tối nay cả nhà đi coi luôn nghe! 
Nghe vợ thông báo tối đi coi cải lương, Hai Gồ chưng hửng bật ngửa luôn. Tối rồi nè trời! Bổng dưng Hai Gồ thấy ghét cải lương vọng cổ dễ sợ. Miệt sông nước, hát cải lương dưới ghe, sân khấu trên sông coi sướng lắm. Đào kép nhiều khi quê tại đây, nên thường hát theo hứng thiên thu đại hải khỏi cần giờ giấc, có khi lên diễn hát tới mờ sáng luôn. Nghe nói hồi nẫm, má của bầu đoàn hát “Sống Giang” này đẻ ổng trên ghe tại bến này, chút nữa rơi sông. Vậy là tiêu rồi, tối nay hát sáng đêm là chắc như ăn bắp rang rồi. He he, thương anh Hai quá!

Tối đó, anh Hai ra coi chút xíu, kệ tuồng “Lá sầu riêng” thiệt hay, tính bỏ về. Thằng em rễ vừa mới rã bồ, lòng cũng thấy buồn, rủ anh Hai qua ghe của thằng bạn nó nhậu chơi, sẵn dịp tâm sự chuyện của mình cho anh Hai nghe luôn. Nghe thằng Ba giới thiệu chồng chị Hai mới xuống, đám bạn thằng Ba dòm lom lom vô mặt anh Hai với con mắt vừa tò mò vừa thương cảm, vừa như kính nể. Một thằng tuổi còn nhỏ, đầu trọc lốc, để bộ râu dài cả tấc đen hin có dáng chủ xị cầm li đế nâng hai tay ngang mặt hướng về anh Hai hát tuồng:
- Chúng đệ đệ kính mừng đại huynh quay trở lại giang hồ… Khà khà, em mời anh Hai cưa(2) với em cái!
- Ừa, anh chào mấy chú! 
Hai Gồ tiếp li rượu lớn hơn li cà phê quứt phát đúng y nửa li. Phục trình độ cưa chính xác của anh Hai, phải là người chiến đấu trường kì trên chiếu nhậu mới có được kinh nghiệm như vậy. Ở miệt này, gặp nhau lần đầu trên chiếu nhậu, người ta thường nhìn cách cầm li, cách uống rượu để đánh giá nhân cách người. Người can trường mã thượng cầm li bằng năm ngón tay, vừa nhấc khỏi chiếu là hả miệng thì rượu đã vào cổ, không kịp thấy nuốt xuống lúc nào, mắt sáng lên, mĩm cười hoặc e hèm rồi nói câu gì đó lí thú. Kẻ tiểu nhân bủn xỉn, tay cầm li rượu thật chặt như sợ rớt lại xuống chiếu, miệng nói lời cảm ơn hoặc xin mời, mắt thì he hé nhìn người đối diện rồi nhìn chung quanh vẻ láo liên …, cánh tay co lại, cả bàn tay cầm li rượu chỉa thẳng vào miệng, cùi chỏ chìa ra phía trước như phòng khi người ta chơi xấu mình thì có cùi chỏ đỡ đòn, miệng mở vừa phải, uống rượu như sợ người khác thấy mình uống rượu.

Li rượu chạy qua chạy lại được mấy tua liền lạc không bị đắp mô(3), tự nhiên chú em râu dài hỏi anh Hai:
- Coi tướng anh Hai như zầy chắc có thêm bà giá(4) anh Hai hén?
Hai Gồ chưa kịp trả lời, có người nói xen:
- Hổng dám đâu, anh Hai hén, chị Hai…
Nói kiểu lửng lơ, rồi cả chiếu nhậu cười ồn ào làm Hai Gồ lờ mờ đoán hình như có chuyện gì đó liên quan tới mình. Hai Gồ quay qua hỏi thằng em rễ, nhưng cũng là hỏi cả chiếu:
- Dượng Ba mày nói nghe có chuyện gì phải hông?
Thằng em rễ mặt buồn buồn, kể lại từ đầu tới cuối chuyện chìm mười một chiếc xuồng trên chợ nổi. Hai Gồ ôm bụng cười quá sá quà sa:
- Bộ anh Hai hổng ngán chị Hai sao mà còn cười? 
- Anh Hai đây có cái gì đâu mà ngán, mấy chú. Chị Hai mày dẫn bà giá zề cho anh Hai, anh đây còn hổng chịu, mần chi mấy chuyện kia.

Thấy mấy bạn nhậu của mình chưa tin lời anh Hai nói, thằng em rễ liền kể chuyện “trái mít nghệ” ở Cua Chuối Hột cho nghe, cả chiếu bái phục quá chừng chừng. Chủ xị râu dài chắp hai tay vái anh Hai mấy cái, kêu hai tiếng: “tổ sư” mấy lần rồi rót rượu cung kính mời anh Hai như kiểu phật tử dâng trà cúng Phật.
- Zậy chớ anh Hai có thích em nào ngoài chị Hai hông?
- Mấy chú hỏi lạ, đàn ông ai cắt tay lại không chảy máu. Máu còn chảy là còn thích gái. Nhưng léng phéng rồi lại không biết giấu như mèo giấu cứt mà còn zề nhà hành hạ, hắt hủi zợ con thì anh Hai đây rất ghét. Thôi, hà hà, nhậu đi, hỏi chuyện đó hoài…
- Thưa anh Hai, em giơ tay xin hỏi câu cuối: “của” anh Hai chắc “giàu” lắm nên nhiều em theo phải zậy hông, anh Hai?
- Mấy thằng trời đánh này, nhậu zô nói tầm bậy tầm bạ trúng tùm la tùm lum không hà. Nhưng anh Hai cũng trả lời, mấy chú phải thuộc nằm lòng câu tục ngữ: “mồm miệng đỡ tay chân” này nghe. Khe khe!
Tiếng loa phát giọng hát thật ấm của kép nào đó đang xuống xề nghe não nề. Giọng ca trôi trên sông hoà cùng tiếng bập bờ của sóng tạo thành những âm thanh vừa lạ vừa quen như tiếng hát vọng về từ kí ức ngàn xưa của lưu dân sông nước trôi dạt về xứ sở đồng bưng “muỗi bay như vãi trấu, cá lềnh như bánh canh” này.

- Anh Hai, biệt danh Hai Gồ từ đâu có zậy anh Hai?
Ai đó cắt ngang dòng suy tưởngcủa Hai Gồ, kéo Hai Gồ trở về với chiếu nhậu. 
- Để em đoán coi có trúng hông nghe anh Hai?
- Ừa, chú nói đi!
- Có phải thời anh Hai đi học mô đen là quần bó xệ đì(5) hông?
- Ừa, có, nói tiếp đi!
- Anh Hai bận quần xanh áo trắng bỏ zô quần, cái chỗ đó bị bó chặt nên gồ lên một đống, nên mấy nữ sinh khoái quá tặng cho anh biệt danh “Gồ”….
Ha ha ha! Ai cũng cười chảy nước mắt, muốn nín thở luôn, có mấy người đứng dậy nhảy loi choi cùng lúc làm chiếc xuồng úp mẹ nó xuống sông. 
Vậy là liên quan với vợ chồng Hai Gồ, có tổng cộng mươi hai chiếc xuồng bị chìm tại bến chợ nổi Cà Mau này. 
Hai Gồ vừa bơi vô bờ vừa lầm bầm “hết cha nó một đêm rồi, trời”! Hu hu!

_____________________________

 

(1): Một loại thúng nhỏ vừa tầm ôm của một cánh tay, dùng để gieo (sạ) lúa
(2): Một phong cách uống rượu của dân Nam Bộ. Trong bàn nhậu, mình kết ai thì mời cùng chia đôi li rượu đầy.
(3): “Đấp mô”, trong chiến tranh, du kích thường đào ngang đường và đấp thành những mô chắn để cắt đường giao thông . Trong trường hợp này, ý nói, li rượu tới tua của người nào đó mà để lâu (hoặc) để lại không uống.
(4): Chỉ người phụ nữ goá chồng hoặc lớn tuổi mà chưa có chồng.
(5): Quần thường tây có lưng xệ xuống dưới lổ rún cả gang tay, như loại quần model của con gái bây giờ, khi ngồi xuống lòi cả mông ở phía sau.

Comments (4) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 03/06,2011 Edit    Bản inBản in

KỂ TIẾP CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ

alt

 
CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ

(tiếp theo)

Tính từ cái hôm chị Hai tay dắt đứa con gái đầu lòng bước lên xe đò đi thẳng về Cà Mau “chống xuồng”, không biết trong bụng Hai Gồ có ray rứt nhớ vợ nhớ con không, mà không thấy Hai Gồ ra đồng ra ruộng gì hết, chỉ nghe bà Tư bán quán nhậu cóc kẻng ở xóm khuyên lơn Hai Gồ:
- Cái thằng, có thương vợ, nhớ con thì bắt xe mà đi tìm con gặp vợ, chớ mày cứ uống rượu hoài, vợ mày nó dẫn con về chắc?
Chỉ thấy Hai Gồ hết vò đầu lại bứt tai, có lúc lại lấy cả bàn tay to như cái quạt đập lên cái đầu bù xù không thèm chải nghe bộp bộp, thấy mà thương tâm. Bên hiếu bên tình, bên nào cũng nghĩa, đạo phu thê, tình phụ tử…, ông bà xưa dạy người đời sau thuộc nằm lòng, nhưng khi chính mình ngộ cảnh, ông bà nào đâu biết cách chi mà chỉ bảo xử cho đẹp, cho vẹn đôi đường. Nghĩ càng thương cho Hai Gồ, thân này khó xẻ làm hai.

Ông già thấy Hai Gồ bỏ ăn cả tháng, chỉ uống rượu với mồi trái cây tổng hợp cóc- ổi- khế- me- chùm ruột, chắc bị “sỏ”(1) chừng chục kí lô, thương thằng con trưởng ăn ở hiền hậu, lo lắng sợ nó sống thất đức, nên lén lén ra quán bà Tư đập tay Hai Gồ hai chỉ vàng và một ít tiền, nói gọn lỏn:
- Thằng Hai mày xuống Cà Mau đi! 
Hai Gồ đang xỉn, nhưng nghe được hai tiếng “Cà Mau” là tĩnh như trời đang nắng nóng trâu được dầm xuống ao, sướng hung, không kịp nói một câu nào với cha, chạy một hơi ra đường quốc lộ. Bộ quần áo mà Hai Gồ bận gần cả tháng nay chẳng cần thay, cứ vậy mà leo lên xe đò đi vô, bụng sướng hết biết, chắc tới nơi cách một cây số chị Hai đã nghe mùi rồi… He he!

Chị Hai từ hôm về tới nhà, giao con cho đứa em gái, nói mày giữ gùm chị, rồi chạy thẳng ra rặng trâm bầu sau nhà khóc một thôi một hồi chừng một tiếng đồng hồ, vắt nước mũi, chùi nước mắt, khóc thêm ba tiếng hu hu hu, mặt nghinh lên trời bước vào nhà, chào má, chào tía… Thật là kính phục chị Hai!
Em gái chị Hai có đứa con gái cũng bằng tuổi con chị Hai, nên hai đứa chơi với nhau suốt ngày. Nhờ đó, ngay ngày thứ hai, chị Hai đã chống xuồng ra chợ nổi mua mua bán bán, chiều tối mịt mới về tới nhà.
Tối, ăn cơm xong, mẹ con hủ hỉ, một hôm con nhỏ nói:
- Má ơi, trưa nay, ông dượng “oánh” dì, dì quên nấu cơm, ngồi khóc miết.
Hỏi ra mới biết, thằng em rể bỏ bê vợ con, chạy theo con nhỏ bán trái cây trên chợ nổi. Gặng hỏi, em gái mới chịu khai tên con nhỏ kia là Sáu Sầu Riêng, vì chuyên bán sầu riêng trên chợ nổi lâu nay.

Sáng hôm sau, chị Hai bới tóc gọn gàng, bận quần bó, áo cụt chống xuồng ra chợ. Chỉ cần hỏi một câu là biết ngay xuồng của Sáu Sầu Riêng đậu ở chỗ nào. Chị Hai cầm đuôi tôm(2) chạy lạng lách cặp sát xuồng con nhỏ liền. Chị Hai tính trước sẽ chỉ nói chuyện nhỏ nhẹ với con nhỏ cho nó biết phải quấy thôi, nhưng khi tới nơi, nhìn thấy thằng em rễ đang giỡn hót với Sáu Sầu Riêng trên xuồng, máu nổi lên rần rần chịu hết thấu, chị thả đuôi tôm, nhảy một phát qua xuồng con nhỏ. Chị Hai nặng hơn bảy chục kí, nhảy trúng be xuồng, xuồng nghiêng lật úp luôn. Chị Hai rớt xuống nước, định chụp tóc con nhỏ nhậng nước cho biết mặt, không ngờ, con nhỏ như rái cá, lặn một hơi mất biệt, không biết nó nổi lên chỗ nào.

Tối đó, thằng em rể biết sợ, gặp chị Hai cười bẽn lẽn:
- Chị Hai, em biết lỗi của em, em bỏ nó luôn rồi, chị tha cho nó nghen chị Hai!
- Ừa, cái đó là do dượng thôi, nếu dượng bỏ nó, thì tui không để bụng nữa.

Sáng mai, chị Hai ra chợ mua bán bình thường, vừa tới nơi, chị nghe tiếng nói lớn trên một chiếc xuồng:
- Mẹ nó chớ, bả ghen giùm cho em gái, làm gì tao, em rể bả dính chặt với tao rồi, dứt ra hổng dễ đâu, em gái bả trước sao cũng bị chồng bỏ… 
Chị Hai lầm bầm, mày chết với chị rồi nghe em. Lần này, chị cẩn thận lách xuồng phía sau lưng con nhỏ, khi cặp sát nách, chị nhẹ nhàng bước qua. 
- Sáu, chị Hai !
Có ai đó la lên, Sáu nhảy qua xuồng kế bên và chạy một hơi qua chục chiếc. Chị Hai nhảy bám sát, làm cho cả chục chiếc xuồng này đều chìm nghĩm. Tới xuồng thứ mười một, Sáu và chị nhảy cùng một lượt, sức nặng của hai người làm chiếc xuồng lật ngang, chị Hai túm được chiếc áo bà ba của Sáu.
- Chết nghe em!
Sáu liều nhảy ùm xuống sông, chị Hai túm chéo áo nhảy theo. Vừa rớt xuống nước là chị Hai ngoi lên, lật ngữa Sáu lên và cho Sáu mấy cái bạt tai. Tay phải chị Hai nắm cổ áo Sáu, tay trái bơi. Chị Hai kéo Sáu nhẹ như kéo cái phao vô bờ. Sáu bị uống nước căng bụng...

Cái chuyện đánh ghen của chị Hai làm chìm mười một chiếc xuồng nổi tiếng khắp xứ Cà Mau. Thằng chồng nào lẹo tẹo, chỉ cần nghe con vợ nói sẽ mét với chị Hai, là ngay tấp lự vừa le lưỡi vừa thun cha nó cái “quyền trượng” của đàn ông liền liền…
Sau này, có lần tôi hỏi chị Hai:
- Bộ cha nào có bồ nhí, vợ nó nhờ, chị cũng xử hết sao? 
- Hổng có đâu, phải phân biệt chớ chú. Thằng chồng nào có bồ bịch mà đàng hoàng với zợ con, và con zợ không than phiền gì, thì thôi. Còn thằng chồng nào ăn mánh rồi zề hành hạ, đánh đập, hắt hủi zợ con, khi con zợ nó nhờ là tui xử ngay, xử thiệt thà, cho tởn tới già!

Khâm phục chị Hai quá! Nếu mọi người cũng khâm phục chị Hai như tôi, thì hãy cùng tôi đề nghị ghi tên “Vợ Hai Gồ” vào ghi- nét Việt Nam về “tinh thần nhân văn đánh ghen”. Ghen cở Hoạn Thư không đáng một cọng lông… măng dưới… bắp chân chị Hai. 
Khơ khơ khơ!

_________________________________

(1): có nghĩa là “ốm” (gầy- tiếng Bắc)
(2): Cầm cần quạt nước điều khiển tốc độ và hướng lái xuồng máy.

(Chuyện còn kể tiếp)

 

Comments (4) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 02/26,2011 Edit    Bản inBản in

KỂ TIẾP CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ


 

alt




KỂ TIẾP CHUYỆN VỢ CHỒNG HAI GỒ

          

             Năm học đệ tam, tôi và mấy thằng bạn chí cốt cùng lớp đã nghiện cà phê và nghiện cả thuốc lá rồi.
Thời đó, ngồi quán cà phê rất dễ sanh sự đánh lộn, vì choi choi với nhau, chỉ cần một ánh mắt nhìn không thân thiện là có thể bị hỏi độp ngay:
- Kênh(1) hả mày?
Nếu nhắm bắt nạt được thì đứng dậy cầm cái ghế bước qua phang thẳng vào bàn của nhóm vừa hỏi xấc. Nếu bọn kia xin lỗi hoặc bỏ chạy thì tốt, còn ngược lại thì mình phải chạy trước, nếu không, ôm mặt máu về nhà là thường. Chuyện đó xảy ra hoài. Vì vậy để tăng cường khả năng đánh lộn, bọn này rủ nhau đi học võ và khi đi ngồi quán cà phê, phải tìm cách kéo Hai Gồ cùng đi. Thấy tướng Hai Gồ ô dề, cao một thước tám, nặng tám chục kí, mặc dù coi cái bản mặt hiền khô, nhưng không đám du côn nào dám động tới.
Bọn này "ngồi đồng"(2) quán cà phê Muôn Phương thường xuyên, lấy nơi này làm nơi tập hợp nhóm. Đây là một trong vài quán cà phê khá nhất của thị xã bằng lổ mũi này. Cà phê phin tuyệt hảo. Âm nhạc được phát ra từ hai loa của chiếc máy quay băng AKAI hiện đại. Nghe nhạc bằng âm thanh stereo là thuộc loại hot (như cách gọi bây giờ) nhất thời đó. Ngồi mơ màng trong khói thuốc thơm Capstan, hớp từng ngụm nhỏ cà phê cứt chồn Ban Mê Thuột, nghe những giai điệu trữ tình của các bài hát tiền chiến, nhạc tình của Phạm Duy... và của Trịnh Công Sơn, rồi tự ám thị mình sống hiện sinh trong thế giới tràn ngập sự chết chóc, giết người và bị giết. Chủ quán là một cô gái tóc đen mượt dài, da trắng, khuôn mặt tròn, không đẹp nhưng tính tình ăn nói dễ thương, tên là Lan. Chỉ tội là mụn to mụn nhỏ thi nhau trồi lên lớp da hồng hồng trên hai má. Lan lớn hơn bọn tôi chừng vài ba tuổi, nhưng lại ngang bằng hoặc nhỏ tuổi hơn Hai Gồ. Tôi kêu Lan bằng chị, Lan xưng bằng tên với tất cả bọn tôi. Một hôm, tới quán một mình, quán vắng khách, Lan ra ngồi với tôi nói chuyện chơi.

 

Đột nhiên Lan hỏi:
- Miên thấy Lan có dễ thương không?
- À... ừ... à...
Tôi lóng ngóng không biết trả lời ra sao hết. Chắc chết, tự dưng lại hỏi kì ta, hay là... Lan thương mình, mụ nội ơi! Ừ mà mình là thằng đẹp trai nhứt nhóm mà (he he), lại có cả xế Dame(3) nữa, không thương cũng uổng.
- Miên cứ nói thiệt đi, có sao nói zậy người ơi.
Tôi làm một hơi hết li cà phê, kéo mấy hơi thuốc nữa mới đủ gan đáp lời:
- Miên thấy chị Lan... đẹ... ẹp đẹp lắm!
- Sao lại cà lăm zậy? Miên nè...
Ngập ngừng một chút, hai má Lan hồng lên, chắc sắp tỏ tình với mình đây. E hèm, lúc đó tôi nhớ mình nín thở chuẩn bị tâm thế để nghe lời tuyên án, tiêu đời trai rồi, Miên ơi.
- Nè, Miên thấy... anh Hai có để ý gì tới chị không?
Nghe Lan xưng chị với mình ngon lành, tôi như quăng được tảng đá to đội trên đầu. Tôi thở liên tục phì phì như trâu ngợp nước vừa ngoi lên bờ, ngả người ra sau, rít thêm mấy hơi thuốc nhả khói lên trần nhà. Chà, zậy là mình thoát nạn!
 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 02/22,2011 Edit    Bản inBản in

NGÀY 17 THÁNG 2


   
                       Quân lính Trung Quốc xâm lược bị bắt làm tù binh tại Cao Bằng


 

NGÀY 17 THÁNG 2


Hàng ngàn gia đình ly tán

Hàng vạn người ngã xuống

Nhớ hình ảnh cụ già ôm bàn thờ

Chết cùng tổ tiên trong "ngọn lửa hung tàn"(*)

Của giặc Bắc phương

Ngày 17/2

Như bao ngàn năm trước

Lịch sử dân Nam ghi thêm một cuộc chiến tranh vệ quốc...

Sáng hôm nay, ngày của 32 năm sau

VTV, HTV, BTV, Nhân Dân, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...

Đưa tin súng nổ ở biên giới Kampuchia với Thái Lan

Tin những cuộc biểu tình đòi chuyển giao quyền lực ở một nước Ả Rập

Tin tai nạn giao thông, vàng lên, giá lên, đô - la thống soái,

Tin nữ diễn viên sao lộ hàng,

Người người đạp lên nhau trong lễ hội "cướp ấn" để giành phúc lộc riêng mình

Và bản tin dự báo thời tiết ngày 17/2, miền Bắc đang nóng dần lên...

Tôi chờ hiện lên số 17/2, chờ... chờ... và... chờ...

Đứng lên coi lịch tháng, vẫn có ngày 17/2

Coi lịch ngày, ừ, cũng có ngày 17/2...

Trong ánh mắt người mẹ Cao Bằng có con bị lính sơn cước đập đầu vẫn còn loé lên ngọn mác có ghi ngày 17/2

Trên những hàng mộ bia liệt sĩ Lào Cai, chữ số 17/2 vẫn còn.

May quá...

Bạn có nghe từ trong sâu thẳm trái tim

Hơi nóng từ chữ số 17/2 cháy đỏ

Xông lên mũi cay xè

Xông lên mắt trào ra hai giọt lệ

Xông lên đầu biến thành hàng chữ to màu máu:

NỖI NHỤC LÃNG QUÊN!!!

___________________ 

(*): "Nướng dân đen trên ngọc lửa hung tàn" - "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi

Comments (8) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 02/20,2011 Edit    Bản inBản in

VỢ CHỒNG HAI GỒ (I)


 



 

 


VỢ CHỒNG HAI GỒ

 (I)

 

 
         Tự nhiên, sáng nay lại nhớ Hai Gồ, rồi lại nhớ tới người phụ nữ miệt Cà Mau, to con, nói năng rổng rảng, tánh tình rộng rãi, khoáng đạt như sông nước miền Nam, là vợ Hai Gồ. Hai Gồ lớn hơn tất cả bạn học cùng lớp, toàn con trai, chừng vài ba tuổi, tướng to con bặm trợn, nhưng tính lại rất hiền và tướng y chang nông dân thứ thiệt. Hai Gồ, cái tên mà tôi có nhắc tới trong bút kí "Đấu tranh" đã lên trang trong blog này. Năm nay, anh hơn 60 tuổi rồi. Anh là lớp trưởng của tôi mấy niên cuối trung học đệ nhị cấp, vào những năm 70- 72 thế kỉ trước...

Cả lớp bọn tôi kêu Hai Gồ bằng anh, xưng em tự nhiên; sau đó lại kêu vợ anh bằng chị, lại xưng em, mặc dù tuổi vợ anh còn nhỏ hơn nhiều đứa trong lớp. Tôi không biết tên thật của chị Hai Gồ là gì. Quen miệng cứ kêu chị Hai, không cần tìm hiểu thêm.  

 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 02/18,2011 Edit    Bản inBản in

HƠI ẤM CHỖ TA NGỒI


Ngày Valentine năm nay, lại nhớ ngày Valentine năm xưa, ta bị gai của "hoa tình" trong "Tuyệt tình cốc" đâm chảy máu, nên đã trúng độc "hoa tình" như Dương Quá trong "Thần điêu hiệp lữ" của Kim Dung. Chất độc tình đó đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng còn mãi đến bây giờ, mặc dù đã được nhiều nữ thần y tận tình cứu chữa nhưng vẫn không trục hết chất độc ra khỏi cơ thể được...
                                  



Hơi ấm chỗ ta ngồi


Ly cà phê đắng nghét
Quán vắng bên đường
Đợi chiều tan
Đợi chút tình hoang dại
Bóng đen như con trăn nuốt dần ảo ảnh ngày vào bụng đói
Những chiếc xe hốt hoảng ầm ào quét đèn cuốn vào đêm tối

Dưới hồ con cá nào quẫy mình nghe như tiếng nấc
Mây xám đùn lên phía chân trời chớp giật
Tháng mấy rồi sao lại ướt mưa ngâu

Trên bàn chai rượu đầy ta cùng đêm uống cạn
Nào nâng li zô trăm phần trăm thuốc độc
Ta chưa say, mời đêm thêm lần nữa
Ta ngộ độc tình rồi, đêm có biết chăng?

Nào đứng lên
Ta say hay là đêm lảo đảo
Chào các em bàn ghế ta về
Các em đừng buồn nếu ta không bao giờ trở lại
Hãy quên đi hơi ấm chỗ ta ngồi...


Comments (16) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 02/12,2011 Edit    Bản inBản in

TUỔI NGƯỜI BÓNG XẾ


 


Biết tin Ngô Đình Miên "lên chức" ông ngoại, nhà thơ Trần Vấn Lệ (đang ở Hoa kì) gởi bài thơ chúc mừng. Tôi đưa lên đây cùng đọc chung và cũng là để cảm ơn nhà thơ Trần Vấn Lệ.


TUỔI NGƯỜI BÓNG XẾ



Bạn tôi nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, chức "Ngoại" lên rồi - đồ quỷ yêu! Lấy vợ làm chi mà sớm thế, nửa đời chống gậy, cháu đi theo...

Tôi ngẩn ngơ nhìn một "ông già", bước chậm trên đường một quãng xa. Ngờ ngợ người quen từ thuở trước, không dè mà "nó" - bạn mười ba!

Bốn mươi năm nhỉ, nhiều thêm chút, tôi "cổ lai hi", "nó" ngũ tuần. Cháu Ngoại của tôi còn bé tí, cháu đi cạnh nó, xinh như Xuân!

Tôi thật không ngờ "thằng bé con", ngày nào, giờ đã lớn như non, đã cao như núi, dài như suối, bóng đổ chiều hôm phiến đá trơn!

Tôi thật không ngờ...tôi chắc cũng y như "thằng bạn" đã già nua? Hôm qua còn mở trang thơ cũ, đọc những bài thơ, lòng rất thơ!

Hôm nay, hai đứa gặp nhau đây, già trẻ cùng chung nét mặt mày, già trẻ kề bên đi lụm khụm, đều là ông Ngoại...thấy hay hay!

Cuộc trăm năm nghĩ sao mà thích: kẻ trước người sau, lớp tuổi chồng, bóng xế cuối đời chung một tiếng ngọt ngào con trẻ gọi "Ông! Ông!"

Bạn tôi ra cổng chào Xuân mới, gặp lúc tôi về, khoe cháu con. Cây gậy bạn cầm, cây gậy trúc. Tôi thì nậm rượu đã sương sương...

Comments (3) Posted to THƠ VĂN của BẠN 02/09,2011 Edit    Bản inBản in

CHÀO ÔNG NGOẠI


                                      


(Ảnh có tính chất minh hoạ)



Thưa bà con hàng xóm, Xuân nay, Ngô Đình Miên có niềm vui "thiệt là zui". Đó là vào 10 giờ ngày hôm nay (05/02/2011), cháu ngoại đầu tiên của ông ngoại NĐM chào đời. Vui nên NĐM đặt thơ... để bà con cùng chia vui với!



 CHÀO ÔNG NGOẠI




"Ngoại chờ cháu khóc rốn lồi"(*)
Mới vừa lên chức ông rồi, đó thôi
Không cười mà khóc chào đời
Cháu chào ông ngoại, hỏi đời có vui...
Chỉ là hạt bụi giữa trời
Trôi trong vũ trụ bỗng rơi vào nhà
Nói thì gần nghĩ lại xa
Cõi trăm năm ấy chỉ là chiêm bao
Dại khôn đâu nói được nào
Cháu tôi lại khóc thét chào: ngoại ơi!


Cuộc đời khoan nhặt, chặt lơi
Muốn nhanh chậm, muốn lộng khơi cũng tuỳ
Ngoại rằng đời có lắm khi
Muốn không được chẳng lấy chi làm buồn
Ông mừng tròn mẹ vuông con
Lớn nhanh tự mở lối mòn mà đi
Bước ngang qua chốn thị phi
In chân dấu ngọc lưu li bụi trần
Gương tâm ngày tháng thanh tân
Trái tim mảnh đau ngàn lần nên thương
Một đời ông gội gió sương
Ngày có cháu, chợt vô thường... ngộ ra

Vì vui, ông nói ba hoa
Nghe như thật nhưng cũng là nói chơi...

________________
(*): Câu trong bài thơ "Tiễn con lấy chồng" của Ngô Đình Miên




Comments (22) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 02/05,2011 Edit    Bản inBản in

ÔM XUÂN TRONG TAY


 






ÔM XUÂN TRONG TAY


Có ai vừa nói mùa xuân tới
Tới để cùng người tươi sắc hoa
Tuổi ai đã chớm mùa thu mới
Mà lá rờn xanh hơn tóc xuân
Mà má cứ hồng như trái chín
Mà lòng hối hả với tình quân...

Có người vừa nhắc xuân lại về
Tiếc mùa năm cũ nhớ xuân quê
Má ba còn vui trong tuổi hạc
Thương thằng hồ hải nhiều đam mê
Lo đứa nghĩ xa đi lối ngược
Cuộc đời còn lắm nỗi chán chê...

Có tôi vừa hỏi mùa xuân nay
Mang theo bao nhiêu niềm vui mới
Hoa xuân tươi nở được ba ngày
Làm sao biết tình xuân phơi phới
Môi cười, lòng hỏi có đắng cay
Thôi thì một phút cùng nhau vội
Ta ôm người ôm xuân trong tay...


Comments (26) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 02/01,2011 Edit    Bản inBản in

EM LÀ CON GÁI HÀ NỘI


  

Đã lâu lắm, tôi có viết bút kí "KÍ ỨC HOÀNG MAI" (sau này có đưa lên blog yenba mấy năm trước). Bút kí có liên quan đến một người con gái Hà Nội.
Tình cờ, cách nay một, hai năm gì đó không nhớ rõ, tôi có gởi bút kí cho một chị bạn ở Hà Nội đọc chơi. Chị lại gởi bút kí ấy đăng trên báo "Phụ Nữ Thủ Đô"...
Lại tình cờ, đầu năm 2011, tôi đọc thấy trên mạng đưa tin về giải thưởng cuộc thi viết "NÉT ĐẸP NGƯỜI HÀ NỘI" lần thứ VI/2010 do Báo Phụ Nữ Thủ Đô tổ chức. Đọc lướt qua, tôi thấy có tên Ngô Đình Miên trong danh sách được giải 3 với bài viết có tựa "EM LÀ CON GÁI HÀ NỘI". Đây chính là bút kí "KÍ ỨC HOÀNG MAI" (chắc do biên tập báo đổi thành EM LÀ CON GÁI HÀ NỘI cho phù hợp với nội dung cuộc thi). Giải được trao vào ngày 09/10/2010. Đến nay, tôi chưa được thông tin gì về giải thưởng này cả.
Nhưng cũng lấy làm vui, nên tôi xin được đăng lại bút kí này.




 


EM LÀ CON GÁI HÀ NỘI

.
Lòng sông cạn nước vì đã dồn hết cho hồ thuỷ lực, quay tuốc-bin phát điện. Bến tắm ngày xưa náo nức giờ đã vắng thưa. Đối với người dân tộc miền núi, có lẽ chỉ bến tắm mỗi chiều mới là nơi gặp gỡ đông đủ người già, trai tráng, những bà mẹ, thiếu nữ, trẻ con của buôn làng sau một ngày vào rừng, lên rẫy, đến trường học... Có người nói rằng, bến tắm là nơi trai gái gặp gỡ hẹn hò nhau, là nơi bắt đầu cho những cuộc tình nam nữ. Nói vậy, chỉ đúng một phần thôi. Vì bến tắm được xem là nơi công cộng, làm sao mà hẹn hò? Nhưng bến tắm lại là nơi cho những ánh mắt tìm nhau, có lúc thẹn thùng, có khi thắm thiết. Bà con dân tộc K'ho ở đây có quy ước ngầm là đàn ông, con trai thì không bao giờ được tắm bên trên dòng nước, mà vị trí đó phải dành cho phụ nữ, con gái - là những người chủ của các gia đình K'ho theo mẫu hệ. Ngày xưa, mỗi bến nước bên bờ sông, con suối, là cõi riêng của một buôn. Nhưng dần dà, yêu cầu của quá trình phát triển xã hội đã đưa các cộng đồng nhỏ bé người dân tộc thiểu số ở các buôn, play, về sống gần với nhau, tập trung vào một cộng đồng lớn hơn: thành thôn, thành xã. Nhưng bến nước, bãi tắm vẫn mãi mãi là nơi tụ họp đông vui nhất của mọi người, mọi nhà, là nơi có đủ các điều kiện không gian tâm lý tối ưu để người ta trải lòng ra với nhau. Đó là không gian hiu hiu gió, nước mát trong, trời chiều bảng lảng bóng núi mờ trong sương. Và... tất thảy mọi người đều khỏa thân mà hoà vào, ùa vào sự mát mẻ trời cho của nước. Có lẽ, chính vì vậy, đây là nơi mà khi còn bị cuốn theo cuộc sống du canh du cư, người ta luôn nhớ về. Ngày xưa, trẻ con dân tộc K'ho mới sinh ra vài ngày, chỉ được coi là có nhiều khả năng ở lại với buôn làng, với "páp mời" (tiếng K'ho có nghĩa là ba má) sau khi được "mời" bọc trong tấm khăn do chính tay mình dệt lấy, đem ra bến sông nhúng vào nước lạnh có nguồn chảy ra từ rừng núi ông bà.

 (Xem tiếp)

Comments (4) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 01/20,2011 Edit    Bản inBản in

CÀ TY - DÒNG SÔNG THỦY TRIỀU (tiếp theo và hết)


                                              



CÀ TY - DÒNG SÔNG THỦY TRIỀU

(tiếp theo và hết)



Thuyền chạy ngược dòng đến gần tới đập Phú Hội thì lòng sông cạn dần, có thể nhìn thấy cả cát vàng dưới lòng sông, thuyền không đi tới được nữa. Đập Phú Hội cách cửa sông Cà Ty chừng 5 km. Đập vừa có tác dụng lấy nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp và cho nhà máy nước Phan Thiết, lại vừa có tác dụng ngăn nước mặn đi sâu hơn nữa vào đất liền. Dòng thuỷ triều lưu thông trên sông Cà Ty bị đập Phú Hội như một thanh ba-ri-e chặn lại. Mùa này nước cạn, nên người dân hai bên bờ sông dễ dàng băng ngang qua trên con đập mà không sợ bị nước cuốn trôi. Đây là lối đi tắt mà người dân ở đây thường dùng. Thỉnh thoảng, vào mùa nước lớn, có người đi qua chưa được nửa con đập thì bị nước cuốn trôi, mấy ngày sau mới vớt xác được. Nhân dân và chính quyền địa phương kiến nghị với nhà nước hàng chục năm nay, xin được xây chiếc cầu bắc ngang qua sông tại khu vực này để thuận tiện cho việc đi lại của dân chúng bên hữu ngạn thuộc xã Hàm Mỹ (huyện Hàm Thuận Nam) và bên tả ngạn thuộc xã Hàm Hiệp (huyện Hàm Thuận Bắc). Mơ ước trên vẫn còn nằm đâu đó trong những tập kỉ yếu cũa Hội đồng nhân dân tỉnh nhiều khoá liền mà chưa có phép tiên nào để biến thành hiện thực. Có mấy người từ thành phố mê câu tôm càng xanh, đầu đội mũ rộng vành, mang kính đen vẫn ngày ngày ngồi trên chiếc ghế xếp cơ động chuyên dụng của dân câu hạng sang, mơ màng trước dòng nước trôi xuôi qua đập và lơ đãng nhìn những người qua lại trên "con đường đập nước" này. Biết đâu họ có thể sẽ nghĩ rằng, khi bắc cầu, xe cộ ầm ào qua lại, con tôm càng xanh không còn thích nơi trú ngụ này nữa. Dân câu phải đi ngược dòng xa hơn để tìm nơi ở mới của tôm càng xanh và phải chọn chỗ mới phù hợp với tâm cảnh của mình nữa, để rồi, người thì ngồi câu mơ ước, lại cũng có người chỉ ngồi câu kí ức mà thôi...

 

Khi thuyền quay trở về, đi xuôi dòng. Mặt trời đã lên cao, gió thổi nhẹ làm cho ánh nắng phản chiếu càng lấp lánh hơn trên những lớp sóng lăn tăn trên mặt sông. Qua khỏi quán "Hoa viên", càng về gần cửa biển, số tàu thuyền đánh cá sau chuyến hải trình về nằm gác mũi vào bờ nghỉ ngơi càng đông hơn. Thỉnh thoảng có chiếc tàu đánh cá khá lớn bỏ neo ở giữa dòng sông. Với người tinh ý, khi nhìn trên những chiếc tàu thuyền kia sẽ biết được vào thời điểm này, thu hoạch của những người đánh cá như thế nào. 
Nếu vào mùa cá khấm khá, những tàu thuyền kia có thể đã bán hết cá cho chủ vựa từ ngoài khơi, hoặc chờ về bến mới bán. Sau đó, chỉ có thuyền được nghỉ ngơi, còn chủ thuyền và bạn lại tiếp tục chuẩn bị các điều kiện cho chuyến ra khơi tiếp theo. Nào là sửa lại máy móc, rồi hút rửa sàn, lòng thuyền, chỉnh lại các giàn đèn câu, vá lại những mắt lưới bị thủng...

 

 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 01/11,2011 Edit    Bản inBản in

CÀ TY - DÒNG SÔNG THỦY TRIỀU

 


Sông Cà Ty- "dòng sông thủy triều"


CÀ TY - DÒNG SÔNG THUỶ TRIỀU

         

Đọc bài "Dòng sông thuỷ triều" của Y Nhiên, một cây viết nữ ở Bình Thuận trên trang blog nhimcon.blogtiengviet.net, một bài viết ngắn, nhưng ý tưởng đẹp và không ngắn chút nào; nó gợi mở nhiều suy tưởng cho người đọc. Tôi là người từng sống đủ lâu với sông Cà Ty, cứ tưởng rằng đã biết rõ dòng sông mềm mại chảy ngang giữa lòng thành phố Phan Thiết yêu thương gắn bó tình cảm hơn năm mươi năm nay với mình rồi. Nhưng không, phát hiện của Nhimcon về Cà Ty là một dòng sông thuỷ triều khiến tôi sững sờ... Y Nhiên viết rằng "sông Cà Ty dài 7,2 km, nhưng có tới 5 km nhận nước thuỷ triều lên xuống, nên gần như quanh năm là nước lợ hoặc nước mặn. Thông thường, bao hàm trong khái niệm sông là dòng chảy nước ngọt. Không ai nghĩ đến có dòng sông nước mặn hoặc nước lợ bao giờ. Thỉnh thoảng ngồi với bạn bè bên bờ sông Cà Ty, tôi hay cắc cớ hỏi người bên cạnh, sông chảy nước ngọt hay nước mặn? Ai cũng cười cho rằng tôi lẩn thẩn. Nhưng khi tôi giải thích và lấy sông Cà Ty để minh hoạ, thì mọi người mới ngớ ra, công nhận một điều lạ có thật ngay nơi mình sống mà không để ý. Có thể gọi Cà Ty là "dòng sông thuỷ triều" cũng không ngoa chút nào"...

Hoá ra, có những cái quanh ta, gần gũi da thịt với ta, nhưng ta vẫn chưa hiểu hết được. Vì vậy, lúc nào cũng cần phải coi lại mình, nhìn ngắm những đối tượng yêu thương của mình với cái nhìn "tương kiến như tân" như thuở ban đầu. Có như vậy, ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để hiểu biết, để nắm bắt, thâu tóm nhiều hơn bản chất của đối tượng gần gũi, gắn bó với ta, mà theo đó, ta biết cách ứng xử phù hợp nhất. Tất nhiên, phần nhiều ai cũng muốn những phát hiện mới về đối tượng của mình là những nét đẹp, nét tốt... 
 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 01/02,2011 Edit    Bản inBản in

ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐỊNH DANH “NHÓM ĐỀN THÁP PÔ SAH INƯ”

  
 

                 
    

 



ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐỊNH DANH "NHÓM ĐỀN THÁP PÔ SAH INƯ"



      Trên đường từ trung tâm thành phố Phan Thiết đến Mũi Né, đi chừng 7 km, ta thấy về phía bên phải, một hình ảnh khiến ta không thể không chú ý. Đó là Tháp Chăm Phố Hài, nằm sừng sửng trên ngọn đồi Bà Nài, trong khu vực có tên gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đặt ngay đầu con đường rẽ phải vào Tháp là một tấm pa- nô bằng bê- tông, trên đó ghi hàng chữ "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư (Phố Hài)". Do vậy, hiện nay, người ta (kể cả báo chí) chỉ gọi đơn giản là Tháp Pô Sah Inư. Có đôi điều phân vân về địa danh này...

Đồi Bà Nài và khu vực chung quanh lâu đài của công tước De Monpensier được gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Lầu Ông Hoàng không phải là một địa danh được xác định bởi một văn bản có tính chất pháp lí của nhà nước, kể cả trong chế độ cũ và hiện giờ. Đó chỉ là cách gọi của dân gian, lâu dần thành quen, ai cũng biết, cũng nhớ và không ai thắc mắc gì về tên gọi đó đúng hay sai. Tuy nhiên, việc cơ quan có chức năng đã đặt tên mới cho Tháp Chăm Phố Hài, một phần quan trọng trong khu vực Lầu Ông Hoàng, thì không thật chính danh cho lắm.


Theo các tài liệu về đền tháp Chăm ở Việt Nam, từ trước thế kỉ XX, tháp này có tên gọi là tháp Phố Hài, được xác định niên đại xây dựng vào khoảng thế kỉ thứ VIII- IX. Tháp thờ thần Shiva, theo Ấn Độ giáo. Tháp được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1991. Từ năm 1992 đến 1995, công cuộc khai quật quanh tháp phát lộ ra một đền thờ đã bị chôn vùi dưới mặt đất. Đền thờ trên được xây dựng vào thế kỉ XV, thờ công chúa Chăm Pô Sah Inư, người có công lớn với dân tộc mình. Từ đó, ngành quản lí văn hóa của  tỉnh cho đổi tên Tháp Phố Hài thành "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư". Về mặt thời gian, tháp Phố Hài được xây dựng trước đền thờ Pô Sah Inư hơn sáu trăm năm. Điều đặc biệt là tháp này hiện đang còn đứng sừng sững với đất trời. Trong khi, đền thờ Pô Sah Inư đã sụp đổ và bị chôn vùi hoàn toàn hàng mấy trăm năm, nay chỉ được biết đến qua dấu vết khai quật mà chỉ có những người khảo cổ mới biết được mà thôi.

Trong cụm từ định danh "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư" trên, phân tích một chút về kết cấu ngữ nghĩa, nếu đứng trước từ "đền" không có từ nào để chỉ định tính chất tồn tại hiện thời của đền, cũng có nghĩa là mặc nhiên xác nhận ngôi đền đó còn đang hiện hữu với nguyên kiến trúc cơ bản ban đầu của nó. Điều đó là không phù hợp. Trong khi hiện nay, "đền" chỉ còn là di chỉ dưới lòng đất.
Việc làm đó vô tình (hay hữu ý) đã "hô biến" mất tên Tháp Chăm Phố Hài; một cái tên đã tồn tại trang trọng hàng trăm năm trên sách vở và trong kí ức của nhiều thế hệ. Cái tên đó chưa hề làm tổn hại gì đến lịch sử văn hoá của đất nước nói chung và dân tộc Chăm nói riêng, cũng không làm giảm thanh danh của những nhà quản lí văn hoá ở địa phương. Những nhà quản lí văn hoá đó, họ biết rất rõ lí do tại sao lại có sự  "hô biến" như vậy. Có điều gì đó bên trong khó nói ở đây chăng? Trong bài viết này sẽ không có có câu trả lời cụ thể, bởi tác giả mong muốn dành một khoảng trống cho những ai quan tâm, để cùng suy nghĩ, cùng tìm hiểu thêm một chút để hầu làm sáng tỏ vấn đề định danh trên...


         Tôi cho rằng, cũng tương tự như việc trên đây, không ai có quyền lấy tên của của một ngôi đền hoặc tháp nào đó trong quần thể di tích Mỹ Sơn (di sản văn hoá thế giới) để làm tên chính thức thay cho tên Mỹ Sơn. Nếu bên cạnh Tháp Chăm Phố Hài, ta biết thêm một di chỉ của đền Phô Sah Inư, thì cần phải có một tên gọi riêng của đền và tên gọi chung của cả di di tích cho phù hợp.
Tôi đã tham khảo ý kiến của một số trí thức (cả người Chăm và người Kinh) đáng kính trọng, có tâm huyết, trung thực và khách quan ở địa phương về vấn đề trên. Họ đều có cùng nhận xét về cách gọi tên "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư (Phố Hài)" của ngành quản lí văn hóa hiện nay là chưa ổn. Do đó, cho rằng tên gọi của quần thể di tích này, chỉ cần thêm từ "đền" vào trong tên cũ "Tháp Chăm Phố Hài" thành "Đền tháp Chăm Phố Hài". Còn nếu muốn rạch ròi hơn thì dùng cụm từ: "Tháp Shiva và đền Pô Sah Inư Phố Hài"(5). Hoặc cứ gọi theo tên cũ là Tháp Chăm Phố Hài.


         Riêng từ "nhóm" không cần thiết phải nằm trước cụm từ cố định định danh trên nữa. Còn nếu vẫn muốn giữ lại từ "nhóm", thì nên thay vào vị trí đó bằng từ "cụm" hoặc "khu". Bởi vì, đối với người am hiểu về tiếng Việt, chỉ cần chú ý một chút về tính chất khu biệt trong liên kết từ của tiếng Việt trong cụm từ "Nhóm đền tháp Pô Sha Inư", là sẽ phát hiện ngay việc chọn từ "nhóm" để liên kết với cụm từ "đền tháp" là không được thuạn cho lắm. Thông thường, nếu chọn một trong các từ gần nhau về mặt ngữ nghĩa với từ "nhóm" như: "khu", "cụm"... để đặt trước cụm từ "đền tháp...", thì hợp lí hơn là phải chọn từ "cụm" hoặc "khu"; vì khi nó liên kết với "đền tháp" sẽ  mang tính khu biệt nhiều hơn, làm cho nghĩa của cả cụm từ liên kết đó sáng rõ hơn cả. Từ "khu" hoặc "cụm" vốn chỉ dùng để liên kết sau nó với những từ chỉ vật mà thôi (như "khu nhà ổ chuột", "cụm lô cốt", "cụm đền tháp"...), không liên kết với từ chỉ người. Không ai nói "cụm người", "cụm trẻ em"... cả. Trong khi những từ có khả năng liên kết sau từ "nhóm" thường là những từ chỉ người nhiều hơn là chỉ vật. Ví dụ: "nhóm trẻ", nhóm người", "nhóm học sinh"... Từ "nhóm" còn liên kết với các nhóm từ khác nhau, trong đó có từ chỉ vật hoặc hành động, thường trong trường hợp tạo nên cụm từ có tính so sánh, phân biệt (ví dụ: "nhóm gỗ", "nhóm chạy, nhóm bắn súng", "nhóm các nhà nghiên cứu về H5N1", "nhóm cháo, nhóm cơm nát", "nhóm công trình kiến trúc thế kỉ 15"...). Riêng đối với cụm từ "Nhóm đền tháp Phô Sha Inư" trên đây chỉ có tính gộp các sự vật mà không hề mang tính so sánh. Vì ai cũng biết, muốn thành nhóm để so sánh, trước hết, các sự vật được gộp chung vào nhóm phải đồng chất, đồng đẳng, đồng đại..., tức là phải giống nhau về các yếu tố cơ bản. Trong khi Tháp thờ thần Shiva khác xa với Đền thờ Pô Sah Inư từ ý nghĩa tôn giáo, kiến trúc đến niên đại xây dựng và hiện trạng di tích...



 

Nếu phân tích thêm hàng chữ : "Công trình kiến trúc nghệ thuật..." trên bia địa danh trên đây, thì càng làm cho ta phân vân hơn nữa. Vì đó chính là nội dung xác nhận ở cấp cao nhất- cấp nhà nước, về loại hình kiến trúc và phong cách nghệ thuật của di tích. Ta thử đặt câu hỏi: "Di chỉ đền Pô Sah Inư thuộc thể loại kiến trúc nào và phong cách nghệ thuật gì?" Câu hỏi này không dễ trả lời, nếu không muốn nói là không thể, vì ngôi đền đã hoàn toàn biến mất ít nhất cũng trên một thế kỉ, không còn dấu vết trên mặt đất, lấy cơ sở đầy đủ nào để có thể xác định thể loại kiến trúc và phong cách nghệ thuật. Ta thử đặt thêm một câu hỏi nữa: "Vậy thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào đâu để đưa di chỉ đền Pô Sah Inư vào cùng với tháp Chăm Phố Hài để gọi chung di tích kiến trúc và nghệ thuật?" Hỏi cũng tức là trả lời...


  

Vì vậy, không có lí do xác đáng nào để lấy tên của một ngôi đền đã trở thành di chỉ làm tên đại diện cho cả cụm di tích Chăm nằm trên đồi Bà Nài.

  Trong việc đặt tên cho di tích văn hoá, theo tôi, có một điều cơ bản cần hết sức lưu ý là phải đặt tính văn hoá và tính lịch sử lên hàng đầu; không vì yếu tố chủ quan về chính trị hoặc tính dân tộc cực đoan mà làm giảm đi ý nghĩa văn hoá của di tích. Di tích văn hoá là riêng của một dân tộc, một quốc gia cụ thể; nhưng nó còn là tài sản văn hoá của nhân loại./.

 

 

 

Comments (4) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 12/18,2010 Edit    Bản inBản in

THIÊN NIÊN CỔ THỤ

 

 

 

 

      THIÊN NIÊN CỔ THỤ



Gió rét phương Bắc

Gió nóng phía Tây

Biển Đông hình thành những cơn bão siêu cấp

Cứ ầm ì giũa mài ý chí ngày đêm

Những con sóng ngoài khơi không biết nói

Chỉ biết khóc than cho số phận đau thương

Của những hòn đảo mất chìm trong bão tố...

Gió rét phương Bắc

Gió nóng phía Tây

Quất từng cơn bỏng rát

Cây cổ thụ đứng giữa công viên thành phố mùa thu

Phơi hết ra nắng những cành nhánh xanh tươi còn sót lại

Và cố giấu đi những chiếc lá vàng khô vào những bọng cây

Đêm đêm những cơn gió độc

âm thầm hút hết nhựa thơm từ những chiếc lá đang non

Biến cây thành thiên niên cổ thụ

Bên trong đầy những vết thương sâu hoắm tối tăm

Lủ mối mọt vừa nghiến những bó li be gỗ vừa tiền hô:

"Thiên niên cổ thụ, cổ thụ thiên niên!"

Bầy chuột cống khổng lồ xây vi- la trong những hốc cây hậu ứng:

"Cổ thụ thiên niên, thiên niên cổ thụ!"

Chim hồng hạc bay qua nghe tiếng hô giật mình

đảo cánh về phương Nam thảng thốt...

Bầy chim vẹt, chim yểng, chim sáo, chim sâu...

Kết lá xanh làm tổ trên cây thiên niên cổ thụ

Đẻ trứng sinh con đời này đời khác

Cứ vô tư theo nhịp lĩnh xướng hót ca:

"Cuộc đời vẫn đẹp sao, cuộc đời sao vẫn đẹp!"

Đâu biết trong ruột thân cây từng ngày đớn đau mục ruỗng

Nhưng vẫn ráng xanh cho hết nhựa ngàn năm

Lấy gỗ nuôi lủ kiến sâu mối mọt 

và dành chỗ cho bầy chuột cống xây cất lâu đài

Chim trên cành cứ bài tụng ca cuộc đời mà hát mãi...


Gió rét phương Bắc không ngừng thổi

Gió nóng phía Tây thổi không ngừng

Bão biển Đông luôn nhấn chìm những hòn đảo khơi xa

Sóng chỉ biết khóc đến bạc đầu mà không biết nói

Lá vẫn ráng xanh và cây vẫn cố chịu đau

Hồng hạc bay đi tìm không biết phương nào để đậu

Đợi ngàn năm sau...






 

Comments (2) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 10/02,2010 Edit    Bản inBản in

LẦU ÔNG HOÀNG VÀ PHAN THIẾT

 

 
 
   Tháp Chăm Phố Hài
 


  
LẦU ÔNG HOÀNG VÀ PHAN THIẾT




Một đôi lần, nhân những ngày có trăng thượng tuần, chọn thời khắc giao hòa giữa ngày và đêm, tôi cùng một vài người bạn thân lên Lầu Ông Hoàng uống rượu. Trên đoạn đường dẫn vào quần thể Tháp Chăm Phố Hài(1) (nay gọi là Tháp Pô Sah Inư), trải giấy báo xuống đất, chúng tôi ngồi giữa đỉnh đồi Bà Nài. Về hướng Đông, cách vài trăm mét là lâu đài đổ nát của ông hoàng Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier(2), cháu nội của hoàng đế Pháp Louis-Philippe I. Kế bên là ngọn đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ thiên thu giữa sơn thủy hữu tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông(3). Từ độ cao trên một trăm mét so với mặt biển này, nhìn về phía Tây Nam là trung tâm thành phố Phan Thiết đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được Tháp Nước(4) đứng lặng lẽ gần trăm năm nay bên bờ con sông Cà Ty duyên dáng, mềm mại chảy ngang qua thành phố.


Tháp Pô Sah Inư (thực ra là tháp thờ thần Shiva, vì đền thờ công chúa Pô Sah Inư đã bị sụp đổ hoàn toàn từ lâu nằm gần sát vị trí tháp), như một "chứng nhân" của lịch sử, một biểu tượng kiên cường không chịu khuất phục của con người trước thiên nhiên, nơi ngụ của thần Shiva, là một trong ba ngôi tối linh của Ấn Độ giáo, vừa là thần huỷ diệt, vừa là thần sáng tạo; bởi theo quan niệm Ấn Độ giáo, huỷ diệt chỉ là hành động tất yếu để đi đến sáng tạo. Phải chăng vì vậy mà khi công chúa Pô Sah Inư gặp duyên tình oan trái vì khác tôn giáo với lãnh chúa Pô Sahaniempar theo đạo Hồi ở vùng đất Hamu Kăm (Ma Lâm ngày nay), thần Shiva giữ đúng nguyên tắc của mình, không can dự vào, mặc cho công chúa chịu đau khổ đến cuối cuộc đời. Và có lẽ cũng chính từ hủy diệt mà sinh ra sáng tạo, nên đã giúp cho công chúa toàn tâm tập trung vào việc lớn của cộng đồng là xây dựng các công trình thủy lợi và dạy dân làm nông nghiệp. Vào thế kỷ 15, nhân dân tôn công chúa Pô sah Inư là thần, lập đền thờ; tuy đã trở thành phế tích mấy trăm năm nay, nhưng hằng năm, bà con người Chăm thuộc vùng Hamu Kăm xưa vẫn thường xuyên về làm lễ cúng, thành tâm cầu an, cầu mưa: "Từ ngày thành đất, thành người/ Thành cây lúa, có thần trời Sa Nư.../ Xin Ngài về hưởng lễ cho/ Để dân cầu được ấm no, an bình" (trích bài tụng ca cúng thần Pô Sah Inư dịch ra lời Việt). Công chúa Pô Sah Inư vẫn luôn sống vĩnh hằng trong tâm thức người Chăm ở Bình Thuận, nhất là người Chăm vùng Humu Kăm của lãnh chúa Pô Sahaniempar.

Không biết công tước De Monpensier có bị dẫn dắt bởi thần Shiva không, mà ông đã đến đây để dựng nên tòa lâu đài trong khung cảnh còn hiển hiện rõ dấu tích suy tàn của quá khứ lịch sử. Nghe dân gian truyền khẩu (không biết đúng, sai? Có thể đây là một huyền thoại mới) rằng, năm đó, trên đường đi du ngoạn, ghé lại xứ Phan, công tước làm quen với một người con gái đẹp vùng biển, rồi đem lòng yêu thương. Không thể đem người yêu về nước Pháp được, vì ông đã có gia đình riêng, ông bèn cho xây dựng lâu đài với danh nghĩa là nơi nghỉ mát và săn bắn, nhưng thực ra là nơi để ông và người yêu gặp gỡ nhau mỗi năm, sống với nhau những ngày hạnh phúc. Sau đó vài năm, người con gái Việt đó sinh hạ một bé gái xinh đẹp có gương mặt Á Đông giống mẹ. Sinh xong thì bị hậu sản mất. Công tước than khóc cho người yêu vắn số, khóc cho mối tình tử biệt. Nghe theo lời người hầu của ông, là người dân tộc Chăm, nói rằng vì công tước đã đến vùng núi do thần Shiva ngự trị, xây cất lâu đài nhưng không xin phép thần. Mặt khác, lâu đài lại áng ngay cửa quay về hướng Đông của Tháp, nên Thần đã sử dụng quyền năng của mình quở phạt công tước phải chịu mất đi một phần trái tim của mình, nhưng bù lại, đã trao cho ông một sinh linh mới mẻ (sự thể hiện quyền năng hủy diệt và sinh sản của thần Shiva chăng?). Trước khi đem đứa con gái về Pháp nuôi dưỡng, công tước cùng người hầu mang lễ vật đến cầu xin thần phù hộ cho giọt máu duy nhất của mối tình Pháp- Việt được lớn lên trưởng thành. Kể từ đó, ông giao quyền quản lí lâu đài cho một người bạn và vì không muốn khơi lại nỗi đau đớn cũ, ông thề vĩnh viễn không quay trở lại Việt Nam, trở lại Đồi Bà Nài, nơi chôn chặt mối duyên tình ngắn ngủi của ông. Nghe nói, sau này, người con gái của công tước có quay lại, tìm về đồi Bà Nài, đứng khóc bên lâu đài đổ nát rồi trở về Pháp. Từ đó, không ai nghe tin tức gì về họ nữa...

Ngày nay, cả khu vực xung quanh lâu đài được mọi người gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Chỉ tiếc rằng, ngành quản lí văn hóa và du lịch của địa phương không có những chỉ dẫn cụ thể nên cả người địa phương lẫn khách du lịch, phóng viên các đài truyền hình (cả trung ương và địa phương), các báo viết trong nước và các trang mạng đều lầm tưởng cụm lô cốt của Pháp và chế độ cũ để lại cách Tháp Chăm Pô Sha Inư về hướng Nam khoảng 100m là lâu đài của công tước De Monpensier. Vì vậy, hình ảnh lâu đài được đưa lên đài truyền hình và báo in là một cụm lô cốt có tháp canh khá cao với nhiều lổ châu mai và lổ chổ vết đạn. Việc này cần phải điều chỉnh lại cho đúng.

                                          
Đây là tháp canh của cụm lô cốt do Pháp để lại, cách Tháp Pô Sah Inư về phía Nam 100 mét. Đây không phải là di tích lâu đài của công tước De Monpensier (Lầu Ông Hoàng)



Vị trí chính thức của lâu đài trên nằm cách Tháp Chăm khoảng hơn 800 mét về hướng Đông, và gần hơn với mộ cụ Nguyễn Thông dưới chân núi Cố. Trước đây 20 năm, tôi có đưa một người bạn ở xa đến đây, thấy phế tích lâu đài đã bị cây bụi gai và dây hoa ăng- ti- gôn bao phủ. Năm nay, tôi có trở lại để chụp hình làm tư liệu, thấy khu vực lâu đài không còn như xưa nữa. Người dân địa phương đã chiếm hết khu phế tích này để làm nhà ở. Trong đó, có hai ngôi nhà nhỏ được xây ngay giữa nền lâu đài. Chủ của một ngôi nhà là lao động nghề biển còn trẻ, lấy vợ sinh con, ba mẹ cho ra riêng, nhưng không có đất ở nên đã lên đây cất nhà. Tôi nói với người chủ nhà đó rằng, ông chủ lâu đài sắp về đòi lại nền nhà đó; rồi giả bộ hỏi anh ta: căn nhà lầu của Ông Hoàng nằm ở đâu? Chủ nhà chỉ tay về hướng Tây Nam đúng vị trí tháp canh của cụm lô cốt Pháp nói đó là Lầu Ông Hoàng. Anh ta không hề biết mình đang ở ngay chính giữa nền một lâu đài đã đi vào huyền thoại... Tại sao lại có thể nhầm lẫn về một sự thật hiển nhiên trước mắt? Và quá trình diễn ra sự nhầm lẫn này là tự nhiên hay có sự cố ý dẫn dắt của ai đó? Tôi đã tìm hiểu khá lâu về vấn đề này. Tôi thử đưa ra một cách lí giải. Nguyên nhân chính của vấn đề trên, trước hết là do hành vi của con người theo "quy luật của sự tiện lợi", nhất là đối với những người có quyền lực mà thiếu trung thực, chỉ biết quan tâm đến lợi ích cục bộ (và cá nhân); đặc biệt là khi có sự tiếp ứng của hệ thống truyền thông (chính thống và không chính thống, nhất là trong môi trường của xa lộ thông tin hiện nay) thì sự việc càng được đẩy đi xa sự thật hơn nữa... Công tước De Monpensier là người Pháp, là thực dân, tất nhiên là kẻ thù của nhân dân. Vì vậy, sau Cách mạng Tháng Tám, lâu đài bị phá hủy. Từ sau 1975, mọi người lo cho cái ăn còn chưa xong, hơi đâu mà đi tìm di tích của một thời. Vậy là thời gian vô tình dần làm hoang phế Lầu Ông Hoàng trong kí ức của mọi người. Đến khi con người dư ăn, dư mặc, thì nhu cầu hưởng thụ về văn hóa đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cấp bách hơn. Nhà nước phải bỏ ra nhiều kinh phí để trùng tu di tích lịch sử - văn hóa kết hợp với khai thác du lịch. Di tích được trùng tu đầu tiên ở khu vực Lầu Ông Hoàng là Tháp Chăm Phố Hài. Du khách khắp nơi nghe tiếng Lầu Ông Hoàng đến đây thăm Tháp Chăm, hỏi Lầu Ông Hoàng ở đâu? Không có câu trả lời cụ thể chính xác. Đến lúc này, "quy luật tiện lợi" phát huy tác dụng. Trong cự li cách Tháp Chăm khoảng một km còn nhiều nền móng của các công trình kiến trúc tương đối lớn được xây dựng từ những thập niên đầu thế kỉ 20. Để "tiện lợi", khỏi mất công đi tìm kiếm, xác thực, người ta (kể cả người có trách nhiệm và không có trách nhiệm) bèn chọn ngay cụm lô cốt với và hệ thông hầm ngầm liên hoàn kiên cố có tháp canh rất cao chỉ cách Tháp Pô Sah Inư 100 mét về phía Nam là di tích Lầu Ông Hoàng, lúc đầu còn nói lấp lửng, sau nhiều lần nói dối, số người tin nhiều hơn, rồi một vài bài báo cũng nói y như vậy. Đến lúc này, câu nói lấp lửng trước kia đã trở thành lời tuyên bố chắc nịch: "Nơi đây là...Lầu Ông Hoàng!" và không ai nghi ngờ gì về sự trung thực của nó. Nếu ai đã từng đến thăm cái nơi Lầu Ông Hoàng giả tưởng này, sẽ rất dễ bị thuyết phục, vì bờ tường đồn bốt của Tây và sau này là Mỹ, xây rất dầy và chắc chắn; cùng với hệ thống hầm ngầm thông nhau giống như hệ thống hồ chứa nước dưới nền lâu đài với mục đích điều hòa nhiệt độ và chứa nước dùng quanh năm, giống như những gì mà các tài liệu mô tả về Lầu Ông Hoàng. Việc này cần phải sớm đính chính lại cho đúng và "trả lại tên cho em". Bài viết của tôi sẽ không đủ sức làm việc này. Nó chỉ như là một sự gợi ý để cho mọi người, những người tôn trọng sự sự thật, có lòng yêu mến sâu xa huyền thoại Lầu Ông Hoàng tiếp tục tìm hiểu một cách khách quan để "của César hãy trả lại cho César"... 


 

             

                                           

Phế tích Lầu Ông Hoàng (thật), cách Tháp Po Sah Inư khoảng 800 mét về phía Đông,
nằm cạnh Con đường nhỏ vào tổ (...), khu phố 5, phường Phú Hài.
 

                                          
Nền lâu đài nhìn từ phía Tây Nam
 



                 
                    
                                                                           Bậc cấp lên lâu đài
 
 


Một bờ móng của lâu đài

 


Nền móng lâu đài nhìn từ hướng Đông Nam



Nền móng lâu đài nhìn từ hướng Nam (phía trước nhìn xuống biển))


Nhà dân xây giữa lâu đài


Ngay cả tên gọi Tháp Pô Sah Inư cũng không được chính danh cho lắm. Theo các tài liệu về đền tháp Chăm ở Việt Nam, thì trước thế kỉ XX, tháp này có tên Tháp Phố Hài (thờ thần Shiva, theo Ấn Độ giáo). Từ năm 1992 đến 1995, công cuộc khai quật quanh Tháp phát lộ ra đền thờ Pô Sah Inư (công chúa Chăm có công lớn với dân tộc mình), theo đúng như truyền thuyết, được xây dựng vào thế kỉ XV. Từ đó, ngành quản lí văn hóa của tỉnh đổi tên thành "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư". Theo tôi, Tháp Phố Hài được xây dựng trước đền thờ Pô Sah Inư hơn 600 năm; mặt khác, đền thờ đã sụp đổ hoàn toàn và bị chôn vùi hàng trăm năm nay, chỉ còn lại dấu vết qua khai quật. Do vậy, ngay cả việc gọi là "đền" cũng không phù hợp, vì giờ đây "đền" không hiện hữu mà đã thành di chỉ khảo cổ rồi. Tên gọi hợp lí nhất cho quần thể di tích này làm thế nào để có sự rạch ròi, tách bạch cả hai di tích: Tháp Phố Hài và di chỉ đền thờ Pô Sah Inư.
Tôi đã tham khảo ý kiến của một số trí thức đáng kính trưởng thành trước 1975 ở địa phương. Họ đã nhất trí với tôi khi chọn tên của quần thể di tích này là: "Quần thể (hoặc cụm) di tích tháp Phố Hài và di chỉ đền Pô Sah Inư"


Những ngọn đồi đẹp chung quanh chỗ nhóm lãng tử chúng tôi ngồi uống rượu dưới trăng này, giống như một trang sách mở của thiên nhiên, theo dòng thời gian, đã ghi chép những gì mà con người qua bao thời đại đã để lại bằng dấu vết vật chất tại đây, hay bằng những câu chuyện đã trở thành huyền thoại trong trí nhớ của cộng đồng. Những ai đến đây, nếu có chung mối đồng cảm, sự quan hoài về lẽ nhân sinh, sẽ dễ dàng nhận ra được sự tập trung nhiều chứng tích chồng lớp lên nhau với mật độ cao, như muốn hiển lộ chứng minh cho sự biến dịch vô thường của trời đất, của kiếp người, nhằm làm sáng tỏ chân lí tối hậu của cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của cái sinh ra và mất đi, những cuộc hạnh ngộ rồi chia li, những sung sướng rồi khổ đau, những hạnh phúc rồi tuyệt vọng... Và dù rằng khi còn sống, con người có tranh đoạt, chém giết lẫn nhau vì những động cơ, lí do bất kì nào chăng nữa; thì cuối cùng cũng phải trở về bên nhau, nằm bên nhau, "sống" hòa với cát bụi để cùng xanh một màu cỏ với mùa xuân... Tiếp nhận được điều đó sẽ giúp chúng ta thấy yêu hơn cuộc sống này, biết sống và sống tốt đẹp hơn.

Có lẽ cụ Nguyễn Thông đã sớm nhận ra điều huyền diệu đó nên đã chọn nơi đây làm nơi trở về, tự nguyện làm một trang trong quyển sách thiên nhiên kì bí nhưng luôn sáng tỏ kia. Vì vậy, cụ đã cho xây trước ngôi mộ và tự viết sẵn lời văn sẽ khắc trên bia mộ của chính mình: "Năm Đinh Sửu (tức năm 1877- người viết), tôi làm Bố chánh Bình Thuận thường xuống các huyện, nhân đi qua thôn Ngọc Lâm, phía Đông phủ Hàm Thuận, lên cao nhìn quanh, thấy sông núi có tình, tôi lấy làm thích, đứng nhìn lâu không chán (...). Vì thế tôi bảo học trò Nguyễn Văn Đường nhặt đá núi, thuê thợ xây đắp (...). Mộ xây xong (...), ở trong bỏ trống để đợi khi dùng đến. Sau lúc tôi trăm tuổi, chẳng biết hồn phách còn nhớ đến núi này nữa hay không, hay là rồi cũng tiêu tán hết? Điều ấy không thể biết được. Nhưng hoa rừng trăng bể, buồm ngư phủ, nhà tiều phu vẻ lạ khói mây đổi thay, hình thù giao thẫn(5) chập chờn, thì sau này vẫn có thể cống hiến một cuộc thích mắt cho những nhà thơ tới đây viếng cảnh vậy"(6). Nguyễn Thông đã tiên tri đúng những việc sẽ diễn ra sau này. Đó là có biết bao nhà thơ, nghệ sĩ đã gởi một phần hồn của mình ở nơi đây...


Tối hôm đó, chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, nhìn lại phía sau lưng mình là cả một "thành phố của bóng tối" - nghĩa trang Phan Thiết; nơi tiếp nhận sự hủy diệt cuộc sống để làm cho cuộc sống mới tiếp tục sinh sôi và phát triển, như nguyên lý quyền năng của thần Shiva. Những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết - Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên màu của cõi bình yên lặng lẽ. Tôi lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh, chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử (7), tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng. Có lẽ tôi cũng muốn "điên" như Tử chăng? Bỗng nghe bạn tôi khe khẽ cất lên lời hát giữa mênh mông như để tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh:"Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân... Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng..." (8)

Cách nay mấy năm, ngành chức năng quản lí về văn hóa và du lịch thực hiện thu âm đĩa CD tuyển chọn những bài hát hay về Bình Thuận, nhằm mục đích quảng bá văn hóa Bình Thuận đến với mọi người trong cả nước, trong đó có mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh. Rất tiếc là những người tuyển chọn đã không chọn một bài bài hát gắn với Bình Thuận mà cho đến nay (và có lẽ cả mai sau- tôi nghĩ như vậy) hầu như ai cũng đã ít nhất một lần nghe qua, vẫn còn nhớ và có thể còn hát được (nhất là hát karaoke, hát trong các cuộc liên hoan, giao lưu văn nghệ, kể cả trong các bữa nhậu...). Đó chính là bài "Hàn Mặc Tử" của Trần Thiện Thanh: "Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng. Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương. Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người. Tìm về nửa đêm buồn...". Nhiều người khi nhắc đến bài hát này, đôi lúc quên tựa, bèn gọi đó là bài "Đường lên dốc đá". Chắc tác giả bài hát trên cũng không cần có tên mình trong tuyển tập. Cần hơn có lẽ chính là những người bình thường nhưng yêu mến quê hương Phan Thiết, Bình Thuận. Đối với ngành du lịch, ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, không vì vậy mà bị thiệt thòi về doanh thu. Nhưng, nếu bài hát đó càng được hát lên, vang xa chừng nào thì cụm di tích được xem là một trong những địa chỉ du lịch điểm nhấn của Bình Thuận: Lầu Ông Hoàng và Tháp Chăm Pô Sah Inư, càng thêm nổi tiếng, càng được nhiều người biết đến, cũng đồng nghĩa với việc thu hút thêm nhiều khách du lịch đến với Bình Thuận. Ngay tại địa điểm du lịch này, tôi đã từng gặp những em nhỏ bán đĩa CD lậu có bài hát "Hàn Mặc Tử" mời chào mua giúp.

Phan Thiết - thành phố nhỏ ven biển xinh xắn này, trôi theo dòng thời gian, đã thành kỉ niệm khó quên của bao người thuộc nhiều thế hệ, có thể là con dân của Phan Thiết, sinh ra và lớn lên ở đây hoặc không là gì với Phan Thiết cả. Kỉ niệm đó có thể là do sự gắn bó hữu hình hoặc chỉ là vô ảnh. Nhưng tất cả đều hằn sâu dấu vết trong kí ức của họ...
Đối với hoàng thân Xu- pha- nu- vông(9), dù là khi đang sống ở quê vợ Nha Trang hay đang giữ vị trí nguyên thủ quốc gia (Lào), chắc ông không thể nào quên được hình ảnh Tháp Nước Phan Thiết (Château d'eau) được xây dựng đúng theo bản vẽ thiết kế chứa nhiều tâm huyết của mình. Một công trình được giới kiến trúc trong nước đánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nam. Năm 2007, có một nhóm sinh viên Lào theo học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thiết kế và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không thể nào tưởng tượng được, ở một nơi xa xôi trên đất nước Việt Nam lại ghi đậm dấu tích thật đẹp của vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân cách lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào hết sức kính yêu. Và có lẽ đây cũng là một chút tình khó quên của các em sinh viên Lào đối với Phan Thiết, với Việt Nam.

Nhà thơ Bích Khê đã sống nhiều năm ở Phan Thiết (10). Trong thời gian này, ông vừa tự học, vừa dạy học, vừa tập trung nhiều tâm huyết cho sáng tác thi ca. Tại đây, ông đã hoàn thành tập "Tình huyết" (1939), một tập thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Bích Khê, được Hàn Mặc Tử đón nhận như "Một bông hoa lạ nở hương" khi viết lời tựa cho tập thơ này. Đặc biệt, với Phan Thiết, nhà thơ đã đa mang nợ tình ái... Ngày 20 tháng 9 năm 1940, Bích Khê vào Viện Phong Quy Hòa thăm Hàn Mặc Tử. Lúc này, hai người bạn thơ thân thiết đều mắc bệnh nan y (Bích Khê mắc bệnh lao). Cả hai chắc là dễ dàng cùng nhau ôn lại những kỉ niệm về tình yêu nơi Phan Thiết. Hàn Mặc Tử thì nhắc đến Mộng Cầm. Còn Bích Khê thì nhắc đến tên của ba người con gái xứ Phan mà mình đã yêu. Một Song Châu, cô học trò (trường tư thục Hồng Đức) của thầy giáo Bích Khê, tuổi đang thì xuân chớm, đã làm cho nhà thơ:
Tôi đắm hồn tôi cho chết say
Như hoa mảnh khảnh xác thu gầy
Ở trong cặp mắt như châu ấy
Và biến ra châu lã chã đầy...

(Châu)
Một Ngọc Kiều chín chắn nồng nàn, mà giữa cơn say tình ái, Bích Khê đã thốt lên trong một bài thơ đề tặng Hàn Mặc Tử:
Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt
Ngọc Kiều ơi! Này khúc Lạc Mai Hoa
Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết
Ta tê mê, ta gảy điệu Tỳ Bà...

(Mộng Cầm ca)
Và tiếp theo là mối tình câm lặng với một sương phụ, cô giáo dạy cùng trường (tư thục Quảng Thuận), là bạn của người chị ruột mình, mà cho đến ngày Bích Khê ra đi vĩnh viễn, Minh Sim (tên của người ấy) mới biết qua những bức thư không bao giờ gởi đi của nhà thơ, do chị của Bích Khê trao lại...


Trong những ngày vật vã với cơn bệnh trầm kha cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng tại nhà thương Quy Hòa, bóng dáng thướt tha yêu kiều của người con gái Phan Thành có tên Mộng Cầm kia cùng với Lầu Ông Hoàng mơ mộng những đêm trăng tàn, trăng rạng, chắc rằng nhà thơ "điên" Hàn Mặc Tử khôn nguôi nhớ về một mối tình vô vọng:
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư .

(Phan Thiết Phan Thiết- Hàn Mặc Tử)


Với Hữu Thỉnh (11) thì lại khác. Trước năm 1975, nhà thơ chưa hề làm quen với Phan Thiết và nếu có biết chắc cũng chỉ hiểu đơn giản đó là địa danh cuả một thị xã miền Trung bình thường như Phan Rang, Tuy Hòa. Nhưng..., khi nhận được tin anh trai mình hy sinh vào năm 1973 tại Phan Thiết (năm 1975 mới biết tin) và sau nhiều lần cố công đi tìm nhưng vẫn không thấy được hài cốt của anh, năm 1981, ông viết bài thơ "Phan Thiết có anh tôi":
... Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi...
Em đã qua những cơn sốt anh qua
Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp
Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết
Em một mình đứng khóc ở sau xe...

Nhà thơ Hữu Thỉnh hẵn sẽ không thể nào quên được địa danh Phan Thiết, vì một lẽ hiển nhiên: "Phan Thiết có anh tôi".


Phan Thiết xưa đã từng là nơi sản sinh những nhạc sĩ tài hoa có bài hát để đời, như: Minh Quốc (bài hát "Tình đồng chí"), Nguyễn Hữu Thiết (bài "Gởi người tôi yêu"), như Dzũng Chinh (các bài "Những đồi hoa sim", "Tha La xóm đạo")... và Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường với những nhạc phẩm nổi tiếng một thời và hiện nay vẫn đang được các ca sĩ hát thu vào đĩa CD, DVD, như: Khi người yêu tôi khóc, Lâu đài tình ái, Hoa biển, Chiếc áo bà ba, Hàn Mặc Tử...

Biết bao người sinh ra và lớn lên tại Phan Thiết, do hoàn cảnh đẩy đưa đành phải li hương, tìm thế sống nơi quê người. Dù cuộc sống ở đất khách có được may mắn, dư dã sung sướng về vật chất bao nhiêu chăng nữa, thì họ luôn cảm thấy có một khoảng trống trong tâm hồn không gì có thể lấp đầy được. Khoảng trống đó chính là quê hương cố cựu. Họ không bao giờ có thể quên được cội nguồn hoặc đánh mất kí ức thời tuổi trẻ nơi quê xưa, một phần quan trọng trong cuộc đời của mình. Lí Bạch (đời Đường, Trung Hoa) được người đời tôn là bậc thi tiên. Gần như cả cuộc đời ung dung, ngạo mạn, ngao du sơn thủy và làm thơ, nhưng trong lòng ông luôn ẩn giấu một nỗi niềm nhớ cố hương sâu lắng như mặt trăng kia vẫn còn đó nhưng chỉ tạm khuất đi trong một số ngày trong tháng hoặc chỉ bị mây che lấp mà thôi. Rồi vào những đêm trăng sáng, nỗi niềm đó lại trồi lên trên bề mặt cảm xúc, chảy tràn lai láng không gì ngăn lại được:
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
(12)

Chung một mối quan hoài như Lý Bạch; Trần Vấn Lệ (13), nhà thơ người Phan Thiết hiện đang sống nơi đất khách quê người, cũng đã nói hộ cho tất cả những ai có cùng tâm trạng tha hương, luôn đau đáu khôn nguôi nhớ về cố hương Phan Thiết bằng những câu thơ đẫm tình tha thiết:
"Hè rồi... Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông. Con sông đầy xác hoa vông rụng quấn quyện chân cầu không muốn trôi... Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ, đi đâu, có thể cuối chân trời! Phan Thiết của tôi và của bạn, sáng nay ai nói rất buồn hiu. Tôi ngồi với bạn bên hè phố, khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều! Chút khói chiều vương vương hoa vông. Phan Thiết khi không nhớ não nùng. Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch, bạn buồn khuấy mãi muỗng koong koong... Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa, con ngựa đôi khi hí giữa đường. Giờ, giữa đường đây, trời đất khách. Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương..." (Mùa vông Phan Thiết cũ).

Còn tôi, ngồi viết những dòng chữ này, thử hình dung mình đang sống trong hoàn cảnh như Lí Bạch, như Trần Vấn Lệ và những ai khác nữa xa quê... Khi đó, mặc dù tôi không thể biểu đạt được nỗi niềm "tư cố hương" bằng những câu thơ tuyệt vời như trên; nhưng chắc chắn, với tôi, đó không phải chỉ là "một chút tình Phan Thiết"... Viết đến đây, bàn tay tôi run lên, lòng đã muốn khóc rồi, Phan Thiết ơi!./.

________________________________________________________________________________________


(1):Tháp Pôshanư (Pô Sah Inư - còn gọi là Tháp Chăm Phố Hài) là một nhóm di tích đền tháp Chăm còn sót lại của Vương quốc Chăm Pa xưa, nằm trên đồi Bà Nài, thuộc phường Phú Hải, cách trung tâm thành phố Phan Thiết 7 km về phía Đông Bắc. Nhóm tháp này có phong cách kiến trúc Hòa Lai - một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Chămpa. Tuy chỉ có kích thước vừa và nhỏ, nhưng nó chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí của người Chăm xưa tạo nên vẻ uy nghiêm và kỳ bí. Nhóm đền tháp Po Sah Inư là một trong những cụm tháp Chàm còn tương đối nguyên vẹn. Khoảng cuối thế kỷ thứ 8 đầu thế kỷ thứ 9, người Chăm xây dựng nhóm đền tháp này với mục đích để thờ vị thần Shiva - là một trong những vị thần Ấn Độ giáo được sùng bái và tôn kính. Thế kỷ 15, xây dựng thêm một số đền thờ với kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Po Sha Inư. Công chúa Po Sha Inư (con vua Para Chanh) là người có tài đức và phép ứng xử nên được người Chăm đương thời yêu quý. Năm 1992-1995, những cuộc khai quật khảo cổ tại nơi này đã phát hiện ra nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ 15. Từ đây tháp có tên gọi là Po Sah Inư.Từ năm 1990 đến năm 2000, di tích được chính quyền tỉnh Bình Thuận tu bổ, tôn tạo. Năm 1991, di tích này được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Tháng giêng âm lịch hàng năm, dưới chân tháp đều có diễn ra các lễ hội như Rija Nưga, Poh Mbăng Yang... Người Chăm làm lễ cầu mưa, cầu an..
(2): Cái tên Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier, cháu nội hoàng đế Pháp chính là nguồn gốc của địa danh Lầu Ông Hoàng ngày nay. Vào năm 1910, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhìn thấy phong cảnh tại những ngọn đồi phía Đông Phan Thiết rất đẹp, đứng ở đây có thể phóng tầm mắt về phía Nam chừng 1 km, thấy rõ những ngọn sóng biển lao xao. Ông đã mua lại từ nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) quả đồi Bà Nài, chọn mảnh đất rộng ở độ cao cách mặt biển 107m, gần Tháp Pôshanư về hướng Đông chừng 500 m để xây dựng biệt thự, làm nơi nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Gần biệt thự còn có các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho giới thượng lưu. Toàn bộ cụm 5 ngọc đồi quanh biệt thư của Công tước De Montpensier, sau đó được gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đây là nơi tạo nên huyền thoại về mối tình thơ lãng mạn Mộng Cầm- Hàn Mặc Tử, đã làm tốn biết bao giấy mực của người đời sau. Ngày 21-2-1911 biệt thư được xây dựng, nền móng được xây bằng đá xanh, cao 2m, với 15 bậc cấp lên xuống, sàn nhà lót gạch bông, phía dưới nền là hệ thống những bể chứa nước mưa lien kết nhau, chung quanh đúc bê tông, có máy bơm dẫn nước lên một lầu nước cao phiá sau, đủ dùng quanh năm suốt tháng. Nóc nhà lợp bằng đá phiến xanh được chở từ Pháp sang, vừa đẹp lại không sợ bị gió biển làm tróc mái. Biệt thự có diện tích 536m2, gồm 7 phòng ngủ và 6 phòng dành cho khách, phòng thết tiệc... Phòng nọ tiếp với phòng kia qua hành lang có mái che. Bên trong các phòng kể cả tiền đình được trang trí sang trọng, tiện nghi. Giường ngủ, bàn ghế, tủ đều đóng bằng loại gỗ quý. Riêng giường có nệm, chân giuờng gắn gù đồng. Có đường trải đá từ dưới chân đồi chạy quanh co, lối vào trước sảnh đường có trồng cây giữ bóng mát cho biệt thự. Bên ngoài tường rào được thả dây leo ăng- ti- gôn nở hoa màu hồng rực rỡ. Ngoài ra còn có nhà máy phát điện riêng, nhà để xe, chuồng ngựa, nhà bếp, nhà tắm, bể chứa nước.
Sau ngày khánh thành, chủ nhân ông Ferdinand D'orléans chính thức đặt tên ngôi biệt thự của mình là ‘NID D'AIGLE' tức là Tổ Chim Ưng. Trong kháng chiến chống Pháp, tòa biệt thự bị bom đạn làm sụp đổ hoàn toàn.
(3): xem chú thích ở bài "Phan Thiết có mùa xuân bông vông đỏ" trong tâp này.
(4): Tháp nước Phan Thiết được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào đầu năm 1934, do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Lào) thiết kế, do nhà thầu Ưng Du đảm trách thi công. Đây là kiến trúc độc đáo nhất trong những công trình tháp nước ở Việt Nam. Hoàng thân Xu- pha- nu- vông sinh năm 1909. Năm 11 tuổi, ông sang Việt học tại trường Albert Sarraut. Năm 1920, sang học tại Pháp. Tốt nghiệp đại học quốc gia cầu đường Paris, trở thành kỹ sư cầu đường đầu tiên ở Đông Dương. Ông về Trung kỳ (Việt Nam) công tác, đã từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng khu Công chánh Nha Trang. Ông thiết kế nhiều công trình thủy lợi trên đất Việt Nam, trong đó có 7 công trình cho đến nay vẫn đang còn sử dụng, tiêu biểu như: Tháp nước Phan Thiết, đập Đô Lương, đập Thanh Chương (Nghệ An), đập Bái Thượng (Thanh Hóa)... Ông lấy vợ là người Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kỳ Nam, người Nha Trang. Ông gặp Hồ Chí Minh, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu sự nghiệp cách mạng. Ông trở thành Chủ tịch Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ tháng 12 năm 1975 đến tháng 8 năm 1991. Ông qua đời ngày 09 tháng 01 năm 1995.
(5): Giao là con thuồng luồng; thẫn là loài ngao bể.
(6): Trích "Bài kí ở mộ tại Ngọc Sơn" của Nguyễn Thông trong tập "Nguyễn Thông- con người và tác phẩm" do Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang sưu tầm và biên soạn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1984.
(7): Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử (tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22/9/1912 - mất 11/11/1940) là một trong những nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, thường được gọi là phong trào "Thơ mới) và cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Trong thời gian ông làm việc ở Sài gòn, năm 1923, ông cộng tác với tờ báo Công luận, phụ trách trang thơ. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi bài cho báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, ròi ông ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người. Lầu Ông Hoàng là chứng nhân của mối tình thơ mộng nhưng tuyệt vọng đó. Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó, Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này, khi mới bước sang tuổi 28. Tác phẩm nổi tiếng của Hàn Mặc Tử: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý...
(8): Trần Thiện Thanh sinh 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết, là hậu duệ của nhà nho yêu nước Trần Thiện Chánh (1822- 1874). Sống tại Phan Thiết đến năm 1958, vào Sài Gòn lập nghiệp và sớm nổi danh. Bút hiệu ông thường dùng là Trần Thiện Thanh, nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông) là một nhạc sĩ chuyên viết về nhạc trữ tình. Ông còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường. Trần Thiện Thanh - Nhật Trường là một trong những nhạc sĩ và ca sĩ nổi tiếng nhất ở miền Nam giai đoạn trước 1975. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam, California, Hoa Kì vì bệnh ung thư.
(9): xem chú thích (4) trên đây.
(10): Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn), tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Bích Khê xuất thân từ một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh yêu nước cách mạng. Ông học bậc trung học ở trường dòng Pellerin tại Huế. Năm 1933, ông vào Phan Thiết sống với gia đình người anh trưởng. Năm 1934, Bích Khê cùng một người bạn (người Phan Thiết) mở trường tư thục Hồng Đức. Năm 1935, ông bỏ trường về quê. Năm 1938, ông trở lại Phan Thiết dạy học tại trường tư thục Quảng Thuận (do ông Nguyễn Quý Hương mở). Năm 1939, trường bị Pháp đóng cửa (vì có liên quan đến cộng sản), ông về lại Quảng Ngãi. Thời gian này ông bị trở bệnh lao phổi đã mắc trước đó, đến năm 1942 thì bệnh rất nặng, kéo dài đến ngày 17/01/1946, ông qua đời ở tuổi 30. Những tác phẩm chủ yếu của Bích Khê: Tình huyết, Tinh hoa, Đẹp, Nấy dòng thơ cũ...
(11): Hữu Thỉnh: sinh năm 1942, nhà thơ. Hiện là chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm có tiếng vang của ông: Đường tới thành phố, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian...
(12): Đó là bài thơ "Tĩnh Dạ Tư" của Lý Bạch, nhà thơ danh tiếng Đời Đường, được người đời sau xưng tụng là thi tiên. Dịch nghĩa: Đầu giường ánh trăng soi sáng/ Ngỡ là sương rơi mặt đất/ Ngẩng đầu lên nhìn trăng sáng/Cúi đầu nhớ quê xưa.
(13): Nhà thơ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31-05-1942 tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, trưởng thành và dạy học tại Đà Lạt, hiện sống tại Hoa Kì. Ông đã cho in trên 10 tập thơ ở nước ngoài.

* * *

Comments (16) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 09/07,2010 Edit    Bản inBản in

PHAN THIẾT CÓ MÙA XUÂN BÔNG VÔNG ĐỎ

                                                                                                                                                                                                            

Tháp nước ( Château d'eau) Phan Thiết     



 

PHAN THIẾT

CÓ MÙA XUÂN BÔNG VÔNG ĐỎ

         

                                               

Sớm nay, giữa tiết đầu đông, trời trở gió, bấc mới thổi được vài cơn mà đã đưa cái hơi lạnh từ phương Bắc xa xôi về thành phố nhỏ ven biển cực Nam Trung bộ này, làm lao xao cây lá, xao xuyến lòng người, khiến cho người ta có cảm giác nao nao, gời gợi nhớ... xa xăm. Mùa xuân về cận kề trong hơi bấc. Có lẽ đó chính là cảm nhận tự nhiên của con người về thời gian, về cái lẽ biến dịch của thiên nhiên, trời đất, sự chuyển động của không gian vũ trụ. Hình như cái se se lạnh cũng làm cho người ta tự dưng muốn gần gũi với nhau hơn, lòng rộng mở bao dung và cảm thấy yêu thương hơn cuộc sống này. Rồi người ta lại muốn nhìn quanh mình, nhìn những cái mà từ lâu, có thể vô tình ta đã lướt ngang qua, chạm nhẹ vào, rồi bỏ quên đâu đó bên lề cuộc đời bề bộn... Tôi cũng vậy, khá lâu rồi, cũng đã bỏ quên, không còn xục xạo vào cái đống sách cũ, "kho tàng tri thức" của mình ngày xưa ấy nữa. Những ngày mà đất nước đang còn khó khăn đủ bề. Sách được in ra trong cơn thiếu giấy, thiếu mực. Giấy thì được làm bằng bột rơm, xác mía; chữ in thì nhỏ như những đàn kiến gió xếp thành nhiều hàng lủ lượt kéo nhau đi từ trang giấy này sang trang giấy khác. Tôi đã bỏ thói quen đọc sách cũ, vì tuổi lớn rồi, mắt mũi kèm nhèm, phải đánh vật khổ sở, nhức mắt mới đọc được vài trang sách. Nhưng bỗng dưng cơn gió bấc đầu đông sáng nay đã làm cho tôi nao lòng nhớ về những cuốn sách cũ kĩ phủ đầy bụi bặm kia. Tôi mở tủ, rút hú hoạ một cuốn... Sách của Tô Hoài, cuốn " Chuyện cũ Hà Nội", in năm 1986. Đọc lan man một hồi về nỗi niềm xưa cũ, cũng ngán. Tôi mở máy vào mạng coi thử tác giả "Dế mèn phiêu lưu kí" có gì mới hơn, hay hơn không. Tôi lướt web và dừng lại, cũng "Chuyện cũ Hà Nội", nhưng mới được tái bản có bổ sung gần đây, đọc tới đoạn nói về bông vông ven hồ Hoàn Kiếm: "Ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa vông - đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết, chỉ đến mùa hoa vông đỏ khé một góc hồ mới nhớ ra, chứ hàng ngày qua dưới gốc vông, không ai để ý tới loại cây cọc rào quá quen mắt ấy", tôi bỗng giật mình. Trong tiềm thức mù sương của tôi, đột ngột hiện lên một vòm không gian rực rỡ sáng đỏ góc trời thành phố biển nhỏ bé một thời yêu quý của chúng tôi và của bao người Phan Thiết xa quê. Khu vườn bông vông đỏ thắm bên dòng Cà Ty...

 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 08/23,2010 Edit    Bản inBản in

Ngô Đình Miên và tập thơ LỤC BÁT HỒN NHIÊN


   


  

 

          Y NHIÊN

                        Ngô Đình Miên và tập thơ LỤC BÁT HỒN NHIÊN

                       

Tôi quen biết Ngô Đình Miên, khi anh còn là lãnh đạo ngành giáo dục một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Thuận. Tôi còn nhớ, trong ngày họp mặt kỉ niệm 30 năm phát triển giáo dục miền núi, năm 2008, mà anh là một trong số ít người đã đi tiên phong, đang lúc ngà ngà say với anh em giáo viên vùng cao, anh đã đọc bài thơ anh đã viết từ thời còn làm hiệu trưởng trường Đông Giang, một trường vùng cao những năm 70 của thế kỉ trước:

Ngày rảnh rang làm thêm nghề mới

Kéo lược cầm tay xuống các buôn

Bên gốc bằng lăng bày mở tiệm

Mỗi mái tóc hớt xong thù lao một nụ cười

(Hớt tóc)

Sau đó, anh làm trưởng phòng giáo dục huyện mười mấy năm. Tuy anh rời ngành đã 10 năm nay, nhưng anh em giáo dục huyện vẫn dành cho anh sự kính trọng và tình cảm nhiều mến thương. Vừa rồi, ngành giáo dục huyện tổ chức chuyến du lịch miền Trung, đã không quên mời anh tham gia. Anh đã nghỉ hưu, nên cũng rảnh rang đi chơi cùng với anh chị em hiệu trưởng các trường trong huyện. Ấn tượng không chỉ của riêng tôi, là tâm hồn anh còn rất trẻ. Suốt chuyến đi, trên chiếc xe 40 chỗ rộng rinh, anh kể nhiều chuyện tiếu lâm làm cả xe vui lên, cùng uống rượu suốt chặng đường giữa hai điểm dừng nghỉ. Tôi không hề nghe anh đả động gì đến chuyện thơ thẩn. Tuy vậy, anh có mang theo vài tập thơ tặng cho số người thân thiết với anh. Tôi cũng thuộc trong nhóm thân thiết đó, nên cũng có được tập thơ mới anh tặng. Trước đó, tôi đã hân hạnh được anh tặng cho hai tập thơ của anh, tập LỜI RU TÓC TRẮNG và tập PHÍA NGƯỢC.

 (Xem tiếp)

Comments (7) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 08/08,2010 Edit    Bản inBản in

GIÓ


                                           
                                




 
GIÓ


Gió đi gió lại quay về

Mây bay qua trời bạc rối

Mưa như nước mắt người già

Mặn chát bao mùa thóc úa

Gió tìm ra cánh đồng xưa khóc lóc muộn mặn

Gió trở về đồi xưa thăm cỏ

Màu xanh ngã rạp hoang vu

Cánh chiện chiện ngã nghiêng trong khí loãng

Đậu trên gò hoang khép nép thở dài

Ngạo mạn con cào cào bay tít trời cao...

Gió thèm uống một ly bia ướp lạnh

Nên dễ dàng bị nhốt vào những nhà tù to nhỏ

Sặc sụa mùi khói thuốc và nhầy nhụa nước hoa

Gió phá cửa chạy ào ra đường nóng như gặp lửa

Gió làm cho một tà áo đẹp của ai đó bay lên giữa hỗn độn người

Giật mình thấy bên trong là những khuôn hình thân rỗng

từ đầu tới chân...

Gió về gió lại bay đi

Đi đâu rồi cũng lại về

Để mãi hồn xưa hương khác

Lang thang bạc trắng mây đầu...


     


                         

Comments (2) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 07/24,2010 Edit    Bản inBản in

VÒM LÁ XANH XÀO XẠC


 

                    






 

VÒM LÁ XANH XÀO XẠC


Bao nhiêu năm chảy cùng dòng sông phố thị

cảnh nhộn người đông

Về lại nếp nhà xưa bên suối vườn quê

cảnh yên người vắng

Giờ mới biết ngôi nhà tầng giữa phố

thật cô đơn

Quán cà phê, nhà hàng, cơ quan làm việc...

khác nào nơi chợ họp

Đầy những gương mặt người, mặt thú, mặt đời

nhộn nhạo nháo nhào

Những ánh mắt quét nhìn không có nơi dừng lại

Lòng vui sửa lại mái nhà dột thủng hết cả nền

Ta ẩn mình vào bóng hình cây cối

Xạc xào mùa gió líu đíu chim kêu

Giấu tâm hồn vào xanh xưa kí ức

Mở tiệc tẩy trần quảng đời nênh nỗi

Tưới tắm tình người cây ân nghĩa nẩy chồi non

Chiều chiều trước hiên nhà, ta ngóng nhìn

bầy cò trắng hình cánh cung ung dung bay về chốn ngủ

Uống ly rượu lừng thơm mùi cây cỏ lâng lâng

Ô hay, sao lòng mình lại như chim nhẹ bổng

Bay đi bay đi chiều hôm

Bay đi bay đi dịu êm

Bay đi bay đi bình yên

Bay đi bay đi mông mênh trời xanh...


Có tiếng chuông nhắn tin bình thường mà lạ lẫm kêu vang

Dòng chữ lặng im hiện hình trách móc:

"Phố nhớ anh!"

Phố sực nhớ ta kìa

Ta có nhớ phố không?

Vòm lá xanh cười

Xào xạc trả lời thay...





Comments (4) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 07/16,2010 Edit    Bản inBản in

CŨ và MỚI


 






CŨ và MỚI




Ta không có gì mới
Biết tự thừa mình ra
Người không có gì mới
Thì người chừa ta ra

Thời gian có gì mới
Mòn dần tháng ngày qua
Đời đâu có gì mới
Vẫn là cõi ta bà

Cái chết muôn đời mới
Cũ với ai bao giờ
Ta cứ hoài như cũ
Yêu em và làm thơ...




 

Comments (6) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 07/11,2010 Edit    Bản inBản in

LÊN AM

 

 

 

            lên am


Không phải là chùa ở phố đâu

Lập am trên núi để tu vui

Ngay cửa tam quan phơi vế đối:

Nam nhân bất đáo, nữ thường lai...

Núi ở trên cao nên mây xuống thấp

Biến ta, am  tự thành khói sương

Đêm trở lạnh khiến người ấm áp

Uống li rượu nhạt nhiều vấn vương

Trước am có cây ngành ngạnh chọc trời

Con chim áo lam co cẳng hót khơi khơi:

Đứng ở trên cao nhìn xa không thấy

Khi hết yêu anh rồi thì em ghé chơi

 


Comments (10) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 06/26,2010 Edit    Bản inBản in

LỤC BÁT HỒN NHIÊN

 

 

 




 

LỤC BÁT HỒN NHIÊN



Xin phép bà con cho tui tự PR cho mình chút xíu (không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới).
Số là, theo dự kiến, năm 2009, tui sẽ  đem in tập thơ thứ ba. Anh em quen  ở một số nhà xuất bản trung ương nói, cứ gởi bản thảo cho họ, có gì đâu, đừng ngại, gởi sớm để kịp đưa vào kế hoạch xuất bản. Tui hoàn chỉnh bản thảo trên máy và gởi file tập thơ cho một nhà xuất bản. Hoàn toàn im lặng, không có hồi âm. Tui gọi điện thoại, không thấy bắt máy. Biết là không ổn ở NXB thứ nhất, tui gọi điện cho người quen ở nhà XB thứ hai. Ừ, chuyện nhỏ như con thỏ, gởi bản thảo đi nghen! Sau khi gởi tác phẩm, được trả lời rằng tui phải thay 1/3 số bài vì "cộm" .  Thành thật mà nói, tui cảm ơn NXB thứ hai này, vì ít nhất họ đã nói thật.
Tập thơ định xuất bản của tui là tập hợp những bài thơ nặng về chuyện thế sự mà tui đã viết trong hai năm qua, một phần đã được post lên  ngodinhmien.vnweblog.com.  Đành vậy! Thôi không in nữa. Tui nói điều này cũng không chủ ý trách móc gì các vị có trách nhiệm ở nhà xuất bản. Việc của trên giao cho họ là vậy. Nếu làm khác đi thì không phải là họ nữa, sẽ thành người khác, việc khác.


 (Xem tiếp)

Comments (10) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 06/10,2010 Edit    Bản inBản in

"CƯỠI NGỰA XEM"... TRUNG QUỐC (tiếp theo)

 





Toàn cảnh Tử Cấm Thành


 

II


Tử Cấm Thành của xứ tao còn to hơn, nếu...


        
   
Lên Vạn Lí Trường Thành, tôi thấy lạnh. Đến Tử Cấm Thành (Cố Cung), tôi thấy ngộp. Lạnh và ngộp vì quy mô và tính chất của công trình. Nó lớn quá, cầu kì quá, sang trọng quá và ... rất đẹp, hơn hẵn những gì mà tôi tưởng tượng hoặc thấy trên phim ảnh. Thật sự ấn tượng.

Tử Cấm Thành nằm ngay trung tâm thành phố Bắc Kinh, là cung điện của các triều đại từ giữa nhà Minh. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là "Cố cung bác vật viện". Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó, UNESCO đã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di sản thế giới vào năm 1987 với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương (tiếng Anh: Imperial Palace of the Ming and Qing Dynasties in Beijing and Shenyang). Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành được hoàng thành bao bọc xung quanh.

               

Một góc Tử Cấm Thành

 (Xem tiếp)

Comments (5) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 05/05,2010 Edit    Bản inBản in

“CƯỠI NGỰA XEM”…TRUNG QUỐC


  



I


Bất đáo Trường Thành phi... Hán nhân

 

        

Giữa tháng Tư vừa rồi, tôi được nhà nước cho một chuyến du lịch nước ngoài. Đây là chính sách của tỉnh, coi như một món quà an ủi cho những cán bộ (thuộc diện Ban TVTU quản lí) khi về hưu. Nước đến du lịch hợp ý tôi: Trung Quốc. Vậy là xếp va li quần áo, hộ chiếu hết hạn phải làm mới, nhận tiền tiêu vặt từ Ban TCTU, chuẩn bị các thứ lặt vặt, nhậu thông tàu xe với bạn bè... Vậy là vui vẻ lên đường. Tôi đã từng tới Trung Quốc hai lần. Lần đầu tiên vào năm 1992, tôi bước qua cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) vào đất Trung Quốc vài chục mét. Lần thứ hai, năm 1998, dài và lâu hơn. Tôi qua cửa khẩu Lào Cai, thăm thị trấn Hà Khẩu và thuê xe đi sâu vào Trung Quốc chừng 30 km, sáng đi, chiều về lại Lào Cai.
 (Xem tiếp)

Comments (4) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 05/05,2010 Edit    Bản inBản in

TUỔI BỐN MƯƠI

                                                              



                                                                                 
 TUỔI BỐN MUƠI


Không có hoa tuổi hai mươi
Không có lúa tuổi ba mươi đến kì
Cây bốn mươi tuổi, thiếu nhi
Em bốn mươi tuổi, dậy thì lần hai...

Vẫn còn xanh tóc đỏ hài
Như đương hây hẩy nắng mai xuân đầy
Bốn mươi tuổi ngấm men cay
Chẳng có gió, lòng cũng bay rộn ràng

Hình như không chút vội vàng
Trễ tràng phía trước, muộn màng sau lưng
Kìa ai hoa hứng trứng nưng
Duyên phần xếp đặt không dưng vào vòng...
Hương tro còn ủ trong lòng
Chợt mai thức dậy phượng hoàng thoắt bay

Yêu nhiều lắm rủi ít may
Bốn mươi tuổi giấc trưa say ...nửa chừng



Comments (17) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 04/28,2010 Edit    Bản inBản in

ĐU


                             



 

    ĐU



Nhện ôm tơ lùa cửa sổ

Người đi dây lưới xiếc đời

Miếng ăn nhện - hiếu danh người

Cùng nhau chơi trò đu gió...

Gót cao lắc bồng bông nhú

Lay lay đồi nhỏ mộng hồng

Em đu ngang đời người- thú

Yêu- tinh- tình, em biết không?


Mưa về đu mây đầu núi

Che lộng cho rừng ngủ trưa

Tâm hư hóa thân hạt nước

Lòng không nhẹ bỗng đong đưa...


Đu người đánh giữa trần ai

Có cuộc chơi nào to vậy?

Cõi này hay bến bên kia?

Đi đi, buông hình tâm thấy!


Giăng mơ ghẹo ngõ vườn xanh

Anh võng lòng mềm cọng cỏ

Ngày em đu hương theo đó

Sắc hoa hồn lá tròng trành


Cánh diều đu cao đầy gió

Buồm yêu khốn giữ dây lèo...



Comments (6) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 03/28,2010 Edit    Bản inBản in

CHUYỆN BẦY ĐÀN

 




 

CHUYỆN BẦY ĐÀN


I

Chiều nay, tôi nhìn thấy một đàn côn trùng lạ trong vườn nhà tôi.

Đương trong cuộc bia bọt tưng bừng với các chiến hữu mừng cho thằng bạn vừa bỏ việc nhà nước về lập miễu tu tại gia, tôi chợt mót đi đái. Cái sự thoát ra... thoát ra..., thiệt là nhẹ nhàng cái bụng, sung sướng cuộc đời. Bỗng nhiên, tôi nghe như có tiếng kêu cầu cứu: "Dừng lại, dừng lại, xin đừng xả lũ nữa!". Tôi nhìn quanh quất, không thấy ai. Lạ lùng thiệt. Tiếng kêu lặp lại lần nữa. Tôi nhìn xuống, chả lẽ là bầy côn trùng này. Chúng vừa giống ong, vừa giống kiến, lại vừa giống mối. Bụng tròn không có eo, đôi càng bự, chỉ có một râu dài như cây giáo của chiến binh thời trung cổ, lại chắp thêm trên lưng đôi cánh mỏng như của loài ong, có màu đen than u ám, nên càng thêm lạ. Tôi đã từng tìm hiểu về các loài côn trùng khi làm "nghiên cứu sinh " ở "học viện đầu bờ" trên cánh đồng quanh năm thất bát vì đủ các loài côn trùng phá hại. Chúng đông nghìn nghịt cả triệu con chứ không ít. Cùng nhau hươ râu múa càng, rồi chúng lũ lượt kéo nhau đi về phương Nam, cuối cùng chúng ổn định đội hình, tập trung lại nơi một ụ mối dưới gốc cây sầu riêng . Nghiêm trang, những con to xác nhất leo lên tận đỉnh ụ mối, như biểu thị quyền lực cao nhất của mình. Đột ngột, chúng đồng loạt dựng râu lên nghe rào rào như người lính bồng súng chào, rồi cả rừng côn trùng ào ào tung hô: " Bầy đàn ta muôn năm vạn tuế". Đến lúc này, tôi mới khẳng định và thật sự kinh ngạc về khả năng kì diệu của chính mình, tôi nghe được tiếng nói của côn trùng. Chẳng lẽ do tôi thường xuyên hàng ngày uống rượu ngâm với mối chúa vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ để tăng cường sinh lực (gặm khoẻ như mối) mà sinh ra được khả năng kì diệu này chăng? Thôi, từ từ tìm nguyên nhân sau, bây giờ cần xem chúng đang và sẽ làm gì tiếp theo...
 (Xem tiếp)

Comments (6) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 03/07,2010 Edit    Bản inBản in

TRỞ LẠI LỀU HOANG


                                                 


TRỞ LẠI LỀU HOANG

                                                                                                                   * Ai cũng cần lều hoang/ để một lần ngồi khóc (NHIÊN ANH)

Nhớ người, trở lại lều hoang
Phong sương giờ rách mái hoàng hôn xưa
Gió khô vừa rớt giọt thưa
Nghe ra tiếng dột cơn mưa đêm nào


Ngồi lên chiếc ghế hanh hao
Thở hơi bụi cũ nghẹn ngào nhện giăng
Nhìn dòng xưa chảy băn khoăn
Người đi mãi biệt bóng tăm sông chiều


Chợt ào lá trút liêu xiêu
Bay từ kí ức về nhiều nhớ nhung
Nỗi nênh ly biệt trùng phùng
Như mây qua mái lều rung tim người


Nào ai buông áo tay lơi
Đã đành phận, cửa khoá nơi duyên phần
Cơn mơ lạ cũng quen dần
Gối chăn rồi cũ tần ngần giấc ngoan


Nhớ người, trở lại lều hoang
Đâu người ngồi khóc để lòng ta đau...
 
 
 

Comments (14) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 02/08,2010 Edit    Bản inBản in

CHẬM

 

                             

 


CHẬM


Mưa dầm đất được thấm lâu

"Chậm mà chắc" đã thành câu nằm lòng

Thấy đời vui cứ thong dong

Vội chi, vấp núi rơi sông chuyện thường


Ái tình tiếng sét giữa đường

Cần nhiều vun đắp yêu thương rộng dài

Lên một rồi mới lên hai

Nào ai nhổ gốc đo cây cao liền


Vào mùa ngủ chú gấu hiền

Ngựa qua cửa sổ cũng phiền giấc đông

Đứng trên bờ rộng ngắm sông

Ngẫm con nước chậm hiểu dòng chảy xa


Nhịp mùa đi trong bao la

Mầm cây chậm lá, quả hoa đúng thì

Tuần hoàn bao cuộc thiên di

Bay trong vũ trụ người đi chậm dần


Tình yêu hoa hứng trứng nâng

Nào ai vô ý đem cân muộn mằn

Người nhanh ta chậm phân vân

Chậm một chút, bớt trăm lần ăn năn!


Comments (13) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 01/31,2010 Edit    Bản inBản in

TẬP BAY

 


  TẬP
BAY


Ta đâu cần ăn ngon
Ta không cần áo đẹp
Ta chỉ cần tình yêu
Cần thêm nhiều bè bạn
Nhưng lại thật dại khờ
Đi yêu một nàng thơ
Ôi cô nàng đỏng đảnh!

Thơ đâu cần lấp lánh
Dị ứng với đại ngôn
Thơ không cần tuyên giáo
Đưa lối và dẫn đường

Thơ đâu cần số lượng
Nhiều chữ và rỡm lời
Thơ không cần đánh bóng
Quảng cáo giữa chợ đời...

Bài thơ mộc sần sùi
Hiền khô như đất thó
Phơi nắng và dầm sương
Cỏ cây mọc trên đó
Hoa cũng trổ từ đây
Hương thơm nương theo gió
Ta cùng thơ... tập bay




Comments (14) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 01/26,2010 Edit    Bản inBản in

CÔNG TRÌNH




 Trận động đất khủng khiếp ở Haiti, làm tôi nhớ trận động đất ở Tứ Xuyên, Trung Quốc vào tháng 5/2008. Lúc đó, tôi có bài thơ về thiên tai này, xin được chép lại, để tưởng nhớ nạn nhận của động đất Haiti.


 

CÔNG TRÌNH

 

 


 

Thiên nhiên được gọi tên tạo hóa

Vì làm nên tuyệt tác một công trình

Là con người - bông hoa vũ trụ

Đẹp hơn tất cả mọi thần linh...

Có gì thiêng liêng hơn hoài thai và sinh nở

Công trình mẹ sinh, một thế giới loài người

Con của mẹ, có nhà thơ và nhà xây dựng

Có người là thi sĩ của muôn đời

Có đứa suốt đời mơ ảo vọng

Lại có thằng giàu nhờ quỳ gối ôm đuôi

Mẹ thương lắm thằng nhà thơ chân thật

Vì làm sao nó sống được trên đời?...

Tác phẩm của những đứa con xây dựng

Bao công trình thế giới kì quan

Vườn Babilon, Kim tự tháp, Vạn lí trường thành

Chiến luỹ Palestin, tháp Trung tâm New York...

Những công trình trường học tỉnh Tứ Xuyên!

Những người mẹ khóc con không còn nước mắt

Những người cha nấc nghẹn gọi con ơi...

Trăm trường học giờ ngổn ngang đá gạch

Nhà kiên cố chung quanh đứng lặng không lời

Con của mẹ có những thằng luôn đói

Phải ăn cả xi măng sắt thép công trình...

                          Biến trường học thành ngôi mồ tập thể

 Cơn địa chấn vô tình chôn sống vạn sinh linh


Thiên nhiên kia vốn mang mầm hiểm họa

Huỷ diệt chính bông hoa đẹp nhất của mình

Mẹ có  phải là người mắc lỗi?

Hay tạo hoá xem đây cũng là một công trình?



 

Comments (4) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 01/22,2010 Edit    Bản inBản in

MUA MAI NGÀY TẾT







  MUA MAI NGÀY TẾT

                              

    
  
 

Sáng 26 Chạp, ăn cắp giờ làm việc của nhà nước, tôi đi tìm mua cây mai chưng Tết. Con đường bờ sông trước cơ quan tôi làm việc tràn ngập đủ thứ mai; từ mai cội già giá bán 5 - 10 triệu một cây, đến mai cắt cành vài trăm ngàn một nhánh, "bèo" nhất là mai chiết cành thân to bằng ngón út, uốn éo một chút cho có vẻ giống bonsai chỉ bán với giá mấy chục ngàn một chậu. Quanh quẩn một hồi, tôi cũng tìm được cây mai ưng ý. Ưng ý vì nhiều lẽ; một là, kích cở chậu mai nhỏ gọn, có thể đặt ở góc tường, trên bàn hoặc ở một vị trí nào đó chiếm không gian khiêm tốn, phù hợp với phòng khách hẹp như nhà tôi; hai là, dáng cây mai này hơi đặc biệt, nó vừa có thế ngã dài như thác đổ, vừa xoè tán, phân nhánh vững chãi theo ngôi thứ cuả một gia đình "tam, tứ đại"; thứ ba, búp mai phân bố đều đặn về không gian và thời gian, nghĩa là, mai sẽ nở đều trên tất cả các nhánh cây và đủ để tuần tự nở trong nhiều ngày kế tiếp nhau, không xả láng nở một lần rồi sạch bông; thứ tư, một vài bông nở sớm cho thấy, đây là loại mai có bông  to, đẹp, cánh xếp dày, đều, kín, từ 6 đến 12 cánh, màu vàng rực ( tôi không thích bông mai chỉ có 5 cánh, nở một cách hổng hẻo, mỏng mảnh như là sự thiếu tự tin và hời hợt...). Thứ năm, bông mai nở toả hương đậm (hiện nay, nhà trồng mai để bán thường sử dụng nhiều phân hoá học, thuốc kích thích tăng trưởng...nên bông mai mất đi rất nhiều hương " hữu xạ")...
 (Xem tiếp)

Comments (12) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 01/15,2010 Edit    Bản inBản in

XUÂN KHƠI




 

XUÂN KHƠI

 
Xuân khơi, chẳng biết viết gì

Rỗng tờ giấy trắng vô vi nói lời

Ô hay ròng rã một đời

Cày sâu luống nghĩ đào khơi tấc lòng

Đi đụng núi về gặp sông

Trái tim mảnh giữa mênh mông cõi tình

Ta ơi, nào dám phụ mình

Yêu cho hết kiếp phù sinh rũ rời

Thì thôi đã dỡ dang rồi

Sinh ra nhằm tuổi rong chơi thường thường

Không biết nhún chỉ biết nhường

Thương nhiều phận mỏng cánh chuồn nhân gian

Gió vui chạy trước lang thang

Bão buồn đăng đẵng muộn màng đến sau

Vết thương chậm ngấm càng đau

Cỏ mềm mưa giọt xanh màu gỉ han

Ta nào đo được thời gian

Ới ời ơi hỡi mang mang kiếp người

Vào rừng chơi với đười ươi

Buồn vui cổ thụ khóc cười nhân gian

Lời xuân khơi chảy miên man

Năm cũ hết, biết sang trang, viết gì?



Comments (25) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 01/04,2010 Edit    Bản inBản in

Bài thơ NGUYÊN NHẬT của LÊ CẢNH TUÂN

 



 

 


 
Bài thơ  NGUYÊN NHẬT của Lê Cảnh Tuân
 
 
 
 

Ngày Tết trong nhà tù của giặc Minh, nhớ về cố hương, Lê Cảnh Tuân gửi nỗi lòng mình trong bài thơ Nguyên Nhật (Ngày đầu năm).

 

   NGUYÊN NHẬT

Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị,
Lão tận cố hương mai

           (Hoàng Việt thi tuyển - Bùi Huy Bích)


      Dịch nghĩa:


    NGÀY ĐẦU NĂM


Khách còn ở lữ quán

Mùa xuân năm ngoái nay trở lại

Ngày về biết chừng nào đây

Cây mai ở quê cũ chắc đã già hết

 


      Không rõ
Lê Cảnh Tuân sinh năm nào, chỉ thấy sử sách ghi ông mất năm1416.  Lê Cảnh Tuân có
tên chữ là Tử Mưu, hiệu là Tỉnh Trai, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thanh Hóa. Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh vào năm Canh thìn (1400), dưới triều Hồ.
 (Xem tiếp)

Comments (10) Posted to Bình & Luận 12/27,2009 Edit    Bản inBản in

TỨ TUYỆT HOA ĐÀ LẠT

                          


TỨ TUYỆT HOA ĐÀ LẠT



 

MAI ANH ĐÀO


Ngày xưa người ta ồn ào về Đà Lạt
Vì có hoa anh đào nở lúc Giáng sinh
Bên hồ Xuân Hương nay người về thấy khác,
Lặng lẽ anh đào nở nín thinh!



HỒNG TỈ MUỘI


Đà Lạt có tường vi và hồng tỉ muội
Tiễn em theo chồng chị rất vui,
Chị đã mất tình đầu, ba mươi tuổi
Nghỉ hưu rồi, trồng tỉ muội phỉ phui ...



XOAN ĐÀO


Có một loài cây, màu hoa hồng nhạt
Người đi đường ngồi bóng cây hóng mát
Đâu biết hoa rơi nuối tiếc cuộc tình
Hoa xoan bên thềm(*), bay như cánh hạc...

____________________
(*): Nhớ bài hát xưa " Hoa xoan bên thềm cũ"
của nhạc sĩ Tuấn Khanh.



HOA NGŨ SẮC


Tròn xoe đủ năm màu khoe sắc
Sao lại gọi "trái tim đàn bà" ? (*)
Cầm nụ hoa mà lòng ẩn trắc,
Cánh rụng hết rồi, trơ cuống hoa!

_________________
(*): Người Pháp còn gọi hoa ngũ sắc là
"trái tim đàn bà" (Le coeur de la femme)



HOA HỒNG


Mọi người thích hoa hồng vì hương và sắc
Đâu biết đời hoa đau khổ phong ba
Em đã lớn muốn nở bung hết cánh ,
Người lại dùng giấy bọc- nén đời hoa ? (*)

__________________

(*): Nhà vườn và người bán hoa hồng đều dùng
giấy bọc ép hoa không cho nở bung cho dễ bán.



HOA QUỲ


Ta về đây xứ sương mù
Trả cho ta nửa mùa thu nắng vàng
Quỳ hoa ơi, cứ mãi vàng
Để ta làm nắng hoang mang giữa đời...








Comments (27) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 12/22,2009 Edit    Bản inBản in

BẾN TẮM


                                                        
 

BẾN TẮM


      

Trong chuyến đi làm việc với các trường vùng cao vào những ngày cận tết, tranh thủ lúc nghỉ trưa, tôi lững thững dạo quanh các buôn bà con dân tộc K' ho sinh sống. Những ngôi nhà xây gạch đã nhiều hơn, làm cho bức tranh buôn làng thêm màu sắc, màu đỏ của tôn mạ màu lợp mái, màu xanh, màu hồng của sơn tường, lại điểm xuyết thêm màu bạc lóe sáng phản chiếu ánh mặt trời của những chảo ăng ten bắt sóng truyền hình kỹ thuật số. Các buôn làng vùng cao giờ đã lên đời. Tôi cố tìm, nhưng hình như không còn ngôi nhà chính nào của gia đình là nhà sàn làm bằng gỗ và tre nứa nữa cả, chỉ còn một số người già không quên nếp nhà tâm linh dân tộc, nên bảo con cháu làm cho một cái nhà sàn nhỏ bằng chừng vài ba chiếc chiếu, nằm khuất phía sau nhà chính, để ngủ vào buổi tối có bếp lửa ấm trên sàn... Tôi cảm thấy hơi buồn. Những biểu tượng của bản sắc dân tộc đã dần bị mai một. Chẳng lẽ, mục đích đưa đời sống bà con vùng cao tiến kịp miền xuôi, cuối cùng là như vậy sao? Loanh quanh thế nào, con đường bê tông nhựa xuyên qua giữa các buôn lại đưa tôi ra bờ sông La Ngà. Đúng giữa trưa nắng chan chan, nhưng ngọn gió của mùa đông cao nguyên thổi lồng từ sông lên, nghe lành lạnh. Trong lòng tôi lại hình như đang lan tỏa một luồng hơi ấm. Hồi ức về một thời xa lắc xa lơ tưởng đã chìm sâu, ngủ quên trong tiềm thức, bỗng nhiên thức dậy, rồi tràn ngập trong toàn bộ cảm thức của mình.
 (Xem tiếp)

Comments (12) Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên 12/19,2009 Edit    Bản inBản in

TIỄN BẠN LÊN CHÙA


                                         

  

 

      TIỄN BẠN LÊN CHÙA

                                               

Nắng đã ruộm vàng trên bến sông

Tiễn bạn chiều nay nặng tấc lòng

Đâu phải phải biệt ly bờ sông Dịch

Tịch tịch Cà Ty đẫm hôn hoàng...


Tình như ngọn gió triều ảo ảnh

Sóng vỗ thời gian biết hư hao

Ròng rã trường canh ôm nguyệt lạnh

Bạn ngẫm đời mình giấc chiêm bao


Tuổi sáu mươi bạc đầu vọng tưởng

Giật mình thoáng chốc chỉ hư không

Thất tình lục dục người vay mượn

Bình bát nợ duyên trả cửa không


Thèm uống cùng nhau trăm chén rượu

Để bạn ấm lòng lúc sôi kinh

Bạn đi chắc lòng quên sắc thụ

Nẻo về hữu ý thức vô minh?


Đèn đã lên rồi trên cửa sông

Xuồng câu thao thức với biển đông

Bạn dong thuyền độ buồm bát nhã

Lòng buồn, ta hỏi bạn: vui không?


Ta lùa bầy dê lên chân núi

Chiều chiều đón bạn xuống lều tranh

Dốc cạn bụi trần bầu tục luỵ

Cười vang tự tại uống vô thanh...

           


Comments (22) Posted to THƠ Ngô Đình Miên 12/15,2009 Edit    Bản inBản in


Tự giới thiệu


Ngô Đình Miên

Quê & Trú: Bình Thuận
" Đời ta đủ thứ lông rông
Bỗng dưng chớt nhớ như không có gì"

Trang chính

Các chủ đề gần đây nhất

Các góp ý gần đây nhất


Lịch

    « May 2012 »
    Su Mo Tu We Th Fr Sa
        1 2 3 4 5
    6 7 8 9 10 11 12
    13 14 15 16 17 18 19
    20 21 22 23 24 25 26
    27 28 29 30 31    

Categories

liên kết cá nhân

Chung

Xuất bản tin

  • RSS 0.90
  • RSS 1.0
  • RSS 2.0
  • Atom 0.3

Trạng thái của blog

  • Tổng số bài viết: 101
  • Tổng số góp ý: 1206
  • Tổng số trackbacks: 0
  • Tổng số lượt xem bài: 14.856