ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐỊNH DANH "NHÓM ĐỀN THÁP PÔ SAH INƯ"
Trên đường từ trung tâm thành phố Phan Thiết đến Mũi Né, đi chừng 7 km, ta thấy về phía bên phải, một hình ảnh khiến ta không thể không chú ý. Đó là Tháp Chăm Phố Hài, nằm sừng sửng trên ngọn đồi Bà Nài, trong khu vực có tên gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đặt ngay đầu con đường rẽ phải vào Tháp là một tấm pa- nô bằng bê- tông, trên đó ghi hàng chữ "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư (Phố Hài)". Do vậy, hiện nay, người ta (kể cả báo chí) chỉ gọi đơn giản là Tháp Pô Sah Inư. Có đôi điều phân vân về địa danh này...
Đồi Bà Nài và khu vực chung quanh lâu đài của công tước De Monpensier được gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Lầu Ông Hoàng không phải là một địa danh được xác định bởi một văn bản có tính chất pháp lí của nhà nước, kể cả trong chế độ cũ và hiện giờ. Đó chỉ là cách gọi của dân gian, lâu dần thành quen, ai cũng biết, cũng nhớ và không ai thắc mắc gì về tên gọi đó đúng hay sai. Tuy nhiên, việc cơ quan có chức năng đã đặt tên mới cho Tháp Chăm Phố Hài, một phần quan trọng trong khu vực Lầu Ông Hoàng, thì không thật chính danh cho lắm.
Theo các tài liệu về đền tháp Chăm ở Việt Nam, từ trước thế kỉ XX, tháp này có tên gọi là tháp Phố Hài, được xác định niên đại xây dựng vào khoảng thế kỉ thứ VIII- IX. Tháp thờ thần Shiva, theo Ấn Độ giáo. Tháp được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1991. Từ năm 1992 đến 1995, công cuộc khai quật quanh tháp phát lộ ra một đền thờ đã bị chôn vùi dưới mặt đất. Đền thờ trên được xây dựng vào thế kỉ XV, thờ công chúa Chăm Pô Sah Inư, người có công lớn với dân tộc mình. Từ đó, ngành quản lí văn hóa của tỉnh cho đổi tên Tháp Phố Hài thành "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư". Về mặt thời gian, tháp Phố Hài được xây dựng trước đền thờ Pô Sah Inư hơn sáu trăm năm. Điều đặc biệt là tháp này hiện đang còn đứng sừng sững với đất trời. Trong khi, đền thờ Pô Sah Inư đã sụp đổ và bị chôn vùi hoàn toàn hàng mấy trăm năm, nay chỉ được biết đến qua dấu vết khai quật mà chỉ có những người khảo cổ mới biết được mà thôi.
Trong cụm từ định danh "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư" trên, phân tích một chút về kết cấu ngữ nghĩa, nếu đứng trước từ "đền" không có từ nào để chỉ định tính chất tồn tại hiện thời của đền, cũng có nghĩa là mặc nhiên xác nhận ngôi đền đó còn đang hiện hữu với nguyên kiến trúc cơ bản ban đầu của nó. Điều đó là không phù hợp. Trong khi hiện nay, "đền" chỉ còn là di chỉ dưới lòng đất.
Việc làm đó vô tình (hay hữu ý) đã "hô biến" mất tên Tháp Chăm Phố Hài; một cái tên đã tồn tại trang trọng hàng trăm năm trên sách vở và trong kí ức của nhiều thế hệ. Cái tên đó chưa hề làm tổn hại gì đến lịch sử văn hoá của đất nước nói chung và dân tộc Chăm nói riêng, cũng không làm giảm thanh danh của những nhà quản lí văn hoá ở địa phương. Những nhà quản lí văn hoá đó, họ biết rất rõ lí do tại sao lại có sự "hô biến" như vậy. Có điều gì đó bên trong khó nói ở đây chăng? Trong bài viết này sẽ không có có câu trả lời cụ thể, bởi tác giả mong muốn dành một khoảng trống cho những ai quan tâm, để cùng suy nghĩ, cùng tìm hiểu thêm một chút để hầu làm sáng tỏ vấn đề định danh trên...
Tôi cho rằng, cũng tương tự như việc trên đây, không ai có quyền lấy tên của của một ngôi đền hoặc tháp nào đó trong quần thể di tích Mỹ Sơn (di sản văn hoá thế giới) để làm tên chính thức thay cho tên Mỹ Sơn. Nếu bên cạnh Tháp Chăm Phố Hài, ta biết thêm một di chỉ của đền Phô Sah Inư, thì cần phải có một tên gọi riêng của đền và tên gọi chung của cả di di tích cho phù hợp. Tôi đã tham khảo ý kiến của một số trí thức (cả người Chăm và người Kinh) đáng kính trọng, có tâm huyết, trung thực và khách quan ở địa phương về vấn đề trên. Họ đều có cùng nhận xét về cách gọi tên "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư (Phố Hài)" của ngành quản lí văn hóa hiện nay là chưa ổn. Do đó, cho rằng tên gọi của quần thể di tích này, chỉ cần thêm từ "đền" vào trong tên cũ "Tháp Chăm Phố Hài" thành "Đền tháp Chăm Phố Hài". Còn nếu muốn rạch ròi hơn thì dùng cụm từ: "Tháp Shiva và đền Pô Sah Inư Phố Hài"(5). Hoặc cứ gọi theo tên cũ là Tháp Chăm Phố Hài.
Riêng từ "nhóm" không cần thiết phải nằm trước cụm từ cố định định danh trên nữa. Còn nếu vẫn muốn giữ lại từ "nhóm", thì nên thay vào vị trí đó bằng từ "cụm" hoặc "khu". Bởi vì, đối với người am hiểu về tiếng Việt, chỉ cần chú ý một chút về tính chất khu biệt trong liên kết từ của tiếng Việt trong cụm từ "Nhóm đền tháp Pô Sha Inư", là sẽ phát hiện ngay việc chọn từ "nhóm" để liên kết với cụm từ "đền tháp" là không được thuạn cho lắm. Thông thường, nếu chọn một trong các từ gần nhau về mặt ngữ nghĩa với từ "nhóm" như: "khu", "cụm"... để đặt trước cụm từ "đền tháp...", thì hợp lí hơn là phải chọn từ "cụm" hoặc "khu"; vì khi nó liên kết với "đền tháp" sẽ mang tính khu biệt nhiều hơn, làm cho nghĩa của cả cụm từ liên kết đó sáng rõ hơn cả. Từ "khu" hoặc "cụm" vốn chỉ dùng để liên kết sau nó với những từ chỉ vật mà thôi (như "khu nhà ổ chuột", "cụm lô cốt", "cụm đền tháp"...), không liên kết với từ chỉ người. Không ai nói "cụm người", "cụm trẻ em"... cả. Trong khi những từ có khả năng liên kết sau từ "nhóm" thường là những từ chỉ người nhiều hơn là chỉ vật. Ví dụ: "nhóm trẻ", nhóm người", "nhóm học sinh"... Từ "nhóm" còn liên kết với các nhóm từ khác nhau, trong đó có từ chỉ vật hoặc hành động, thường trong trường hợp tạo nên cụm từ có tính so sánh, phân biệt (ví dụ: "nhóm gỗ", "nhóm chạy, nhóm bắn súng", "nhóm các nhà nghiên cứu về H5N1", "nhóm cháo, nhóm cơm nát", "nhóm công trình kiến trúc thế kỉ 15"...). Riêng đối với cụm từ "Nhóm đền tháp Phô Sha Inư" trên đây chỉ có tính gộp các sự vật mà không hề mang tính so sánh. Vì ai cũng biết, muốn thành nhóm để so sánh, trước hết, các sự vật được gộp chung vào nhóm phải đồng chất, đồng đẳng, đồng đại..., tức là phải giống nhau về các yếu tố cơ bản. Trong khi Tháp thờ thần Shiva khác xa với Đền thờ Pô Sah Inư từ ý nghĩa tôn giáo, kiến trúc đến niên đại xây dựng và hiện trạng di tích...
Nếu phân tích thêm hàng chữ : "Công trình kiến trúc nghệ thuật..." trên bia địa danh trên đây, thì càng làm cho ta phân vân hơn nữa. Vì đó chính là nội dung xác nhận ở cấp cao nhất- cấp nhà nước, về loại hình kiến trúc và phong cách nghệ thuật của di tích. Ta thử đặt câu hỏi: "Di chỉ đền Pô Sah Inư thuộc thể loại kiến trúc nào và phong cách nghệ thuật gì?" Câu hỏi này không dễ trả lời, nếu không muốn nói là không thể, vì ngôi đền đã hoàn toàn biến mất ít nhất cũng trên một thế kỉ, không còn dấu vết trên mặt đất, lấy cơ sở đầy đủ nào để có thể xác định thể loại kiến trúc và phong cách nghệ thuật. Ta thử đặt thêm một câu hỏi nữa: "Vậy thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào đâu để đưa di chỉ đền Pô Sah Inư vào cùng với tháp Chăm Phố Hài để gọi chung di tích kiến trúc và nghệ thuật?" Hỏi cũng tức là trả lời...
Vì vậy, không có lí do xác đáng nào để lấy tên của một ngôi đền đã trở thành di chỉ làm tên đại diện cho cả cụm di tích Chăm nằm trên đồi Bà Nài.
Trong việc đặt tên cho di tích văn hoá, theo tôi, có một điều cơ bản cần hết sức lưu ý là phải đặt tính văn hoá và tính lịch sử lên hàng đầu; không vì yếu tố chủ quan về chính trị hoặc tính dân tộc cực đoan mà làm giảm đi ý nghĩa văn hoá của di tích. Di tích văn hoá là riêng của một dân tộc, một quốc gia cụ thể; nhưng nó còn là tài sản văn hoá của nhân loại./.
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
12/18,2010
Edit
Bản in
Tháp Chăm Phố Hài
LẦU ÔNG HOÀNG VÀ PHAN THIẾT
Một đôi lần, nhân những ngày có trăng thượng tuần, chọn thời khắc giao hòa giữa ngày và đêm, tôi cùng một vài người bạn thân lên Lầu Ông Hoàng uống rượu. Trên đoạn đường dẫn vào quần thể Tháp Chăm Phố Hài(1) (nay gọi là Tháp Pô Sah Inư), trải giấy báo xuống đất, chúng tôi ngồi giữa đỉnh đồi Bà Nài. Về hướng Đông, cách vài trăm mét là lâu đài đổ nát của ông hoàng Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier(2), cháu nội của hoàng đế Pháp Louis-Philippe I. Kế bên là ngọn đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ thiên thu giữa sơn thủy hữu tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông(3). Từ độ cao trên một trăm mét so với mặt biển này, nhìn về phía Tây Nam là trung tâm thành phố Phan Thiết đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được Tháp Nước(4) đứng lặng lẽ gần trăm năm nay bên bờ con sông Cà Ty duyên dáng, mềm mại chảy ngang qua thành phố.
Tháp Pô Sah Inư (thực ra là tháp thờ thần Shiva, vì đền thờ công chúa Pô Sah Inư đã bị sụp đổ hoàn toàn từ lâu nằm gần sát vị trí tháp), như một "chứng nhân" của lịch sử, một biểu tượng kiên cường không chịu khuất phục của con người trước thiên nhiên, nơi ngụ của thần Shiva, là một trong ba ngôi tối linh của Ấn Độ giáo, vừa là thần huỷ diệt, vừa là thần sáng tạo; bởi theo quan niệm Ấn Độ giáo, huỷ diệt chỉ là hành động tất yếu để đi đến sáng tạo. Phải chăng vì vậy mà khi công chúa Pô Sah Inư gặp duyên tình oan trái vì khác tôn giáo với lãnh chúa Pô Sahaniempar theo đạo Hồi ở vùng đất Hamu Kăm (Ma Lâm ngày nay), thần Shiva giữ đúng nguyên tắc của mình, không can dự vào, mặc cho công chúa chịu đau khổ đến cuối cuộc đời. Và có lẽ cũng chính từ hủy diệt mà sinh ra sáng tạo, nên đã giúp cho công chúa toàn tâm tập trung vào việc lớn của cộng đồng là xây dựng các công trình thủy lợi và dạy dân làm nông nghiệp. Vào thế kỷ 15, nhân dân tôn công chúa Pô sah Inư là thần, lập đền thờ; tuy đã trở thành phế tích mấy trăm năm nay, nhưng hằng năm, bà con người Chăm thuộc vùng Hamu Kăm xưa vẫn thường xuyên về làm lễ cúng, thành tâm cầu an, cầu mưa: "Từ ngày thành đất, thành người/ Thành cây lúa, có thần trời Sa Nư.../ Xin Ngài về hưởng lễ cho/ Để dân cầu được ấm no, an bình" (trích bài tụng ca cúng thần Pô Sah Inư dịch ra lời Việt). Công chúa Pô Sah Inư vẫn luôn sống vĩnh hằng trong tâm thức người Chăm ở Bình Thuận, nhất là người Chăm vùng Humu Kăm của lãnh chúa Pô Sahaniempar.
Không biết công tước De Monpensier có bị dẫn dắt bởi thần Shiva không, mà ông đã đến đây để dựng nên tòa lâu đài trong khung cảnh còn hiển hiện rõ dấu tích suy tàn của quá khứ lịch sử. Nghe dân gian truyền khẩu (không biết đúng, sai? Có thể đây là một huyền thoại mới) rằng, năm đó, trên đường đi du ngoạn, ghé lại xứ Phan, công tước làm quen với một người con gái đẹp vùng biển, rồi đem lòng yêu thương. Không thể đem người yêu về nước Pháp được, vì ông đã có gia đình riêng, ông bèn cho xây dựng lâu đài với danh nghĩa là nơi nghỉ mát và săn bắn, nhưng thực ra là nơi để ông và người yêu gặp gỡ nhau mỗi năm, sống với nhau những ngày hạnh phúc. Sau đó vài năm, người con gái Việt đó sinh hạ một bé gái xinh đẹp có gương mặt Á Đông giống mẹ. Sinh xong thì bị hậu sản mất. Công tước than khóc cho người yêu vắn số, khóc cho mối tình tử biệt. Nghe theo lời người hầu của ông, là người dân tộc Chăm, nói rằng vì công tước đã đến vùng núi do thần Shiva ngự trị, xây cất lâu đài nhưng không xin phép thần. Mặt khác, lâu đài lại áng ngay cửa quay về hướng Đông của Tháp, nên Thần đã sử dụng quyền năng của mình quở phạt công tước phải chịu mất đi một phần trái tim của mình, nhưng bù lại, đã trao cho ông một sinh linh mới mẻ (sự thể hiện quyền năng hủy diệt và sinh sản của thần Shiva chăng?). Trước khi đem đứa con gái về Pháp nuôi dưỡng, công tước cùng người hầu mang lễ vật đến cầu xin thần phù hộ cho giọt máu duy nhất của mối tình Pháp- Việt được lớn lên trưởng thành. Kể từ đó, ông giao quyền quản lí lâu đài cho một người bạn và vì không muốn khơi lại nỗi đau đớn cũ, ông thề vĩnh viễn không quay trở lại Việt Nam, trở lại Đồi Bà Nài, nơi chôn chặt mối duyên tình ngắn ngủi của ông. Nghe nói, sau này, người con gái của công tước có quay lại, tìm về đồi Bà Nài, đứng khóc bên lâu đài đổ nát rồi trở về Pháp. Từ đó, không ai nghe tin tức gì về họ nữa...
Ngày nay, cả khu vực xung quanh lâu đài được mọi người gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Chỉ tiếc rằng, ngành quản lí văn hóa và du lịch của địa phương không có những chỉ dẫn cụ thể nên cả người địa phương lẫn khách du lịch, phóng viên các đài truyền hình (cả trung ương và địa phương), các báo viết trong nước và các trang mạng đều lầm tưởng cụm lô cốt của Pháp và chế độ cũ để lại cách Tháp Chăm Pô Sha Inư về hướng Nam khoảng 100m là lâu đài của công tước De Monpensier. Vì vậy, hình ảnh lâu đài được đưa lên đài truyền hình và báo in là một cụm lô cốt có tháp canh khá cao với nhiều lổ châu mai và lổ chổ vết đạn. Việc này cần phải điều chỉnh lại cho đúng.

Đây là tháp canh của cụm lô cốt do Pháp để lại, cách Tháp Pô Sah Inư về phía Nam 100 mét. Đây không phải là di tích lâu đài của công tước De Monpensier (Lầu Ông Hoàng)
Vị trí chính thức của lâu đài trên nằm cách Tháp Chăm khoảng hơn 800 mét về hướng Đông, và gần hơn với mộ cụ Nguyễn Thông dưới chân núi Cố. Trước đây 20 năm, tôi có đưa một người bạn ở xa đến đây, thấy phế tích lâu đài đã bị cây bụi gai và dây hoa ăng- ti- gôn bao phủ. Năm nay, tôi có trở lại để chụp hình làm tư liệu, thấy khu vực lâu đài không còn như xưa nữa. Người dân địa phương đã chiếm hết khu phế tích này để làm nhà ở. Trong đó, có hai ngôi nhà nhỏ được xây ngay giữa nền lâu đài. Chủ của một ngôi nhà là lao động nghề biển còn trẻ, lấy vợ sinh con, ba mẹ cho ra riêng, nhưng không có đất ở nên đã lên đây cất nhà. Tôi nói với người chủ nhà đó rằng, ông chủ lâu đài sắp về đòi lại nền nhà đó; rồi giả bộ hỏi anh ta: căn nhà lầu của Ông Hoàng nằm ở đâu? Chủ nhà chỉ tay về hướng Tây Nam đúng vị trí tháp canh của cụm lô cốt Pháp nói đó là Lầu Ông Hoàng. Anh ta không hề biết mình đang ở ngay chính giữa nền một lâu đài đã đi vào huyền thoại... Tại sao lại có thể nhầm lẫn về một sự thật hiển nhiên trước mắt? Và quá trình diễn ra sự nhầm lẫn này là tự nhiên hay có sự cố ý dẫn dắt của ai đó? Tôi đã tìm hiểu khá lâu về vấn đề này. Tôi thử đưa ra một cách lí giải. Nguyên nhân chính của vấn đề trên, trước hết là do hành vi của con người theo "quy luật của sự tiện lợi", nhất là đối với những người có quyền lực mà thiếu trung thực, chỉ biết quan tâm đến lợi ích cục bộ (và cá nhân); đặc biệt là khi có sự tiếp ứng của hệ thống truyền thông (chính thống và không chính thống, nhất là trong môi trường của xa lộ thông tin hiện nay) thì sự việc càng được đẩy đi xa sự thật hơn nữa... Công tước De Monpensier là người Pháp, là thực dân, tất nhiên là kẻ thù của nhân dân. Vì vậy, sau Cách mạng Tháng Tám, lâu đài bị phá hủy. Từ sau 1975, mọi người lo cho cái ăn còn chưa xong, hơi đâu mà đi tìm di tích của một thời. Vậy là thời gian vô tình dần làm hoang phế Lầu Ông Hoàng trong kí ức của mọi người. Đến khi con người dư ăn, dư mặc, thì nhu cầu hưởng thụ về văn hóa đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cấp bách hơn. Nhà nước phải bỏ ra nhiều kinh phí để trùng tu di tích lịch sử - văn hóa kết hợp với khai thác du lịch. Di tích được trùng tu đầu tiên ở khu vực Lầu Ông Hoàng là Tháp Chăm Phố Hài. Du khách khắp nơi nghe tiếng Lầu Ông Hoàng đến đây thăm Tháp Chăm, hỏi Lầu Ông Hoàng ở đâu? Không có câu trả lời cụ thể chính xác. Đến lúc này, "quy luật tiện lợi" phát huy tác dụng. Trong cự li cách Tháp Chăm khoảng một km còn nhiều nền móng của các công trình kiến trúc tương đối lớn được xây dựng từ những thập niên đầu thế kỉ 20. Để "tiện lợi", khỏi mất công đi tìm kiếm, xác thực, người ta (kể cả người có trách nhiệm và không có trách nhiệm) bèn chọn ngay cụm lô cốt với và hệ thông hầm ngầm liên hoàn kiên cố có tháp canh rất cao chỉ cách Tháp Pô Sah Inư 100 mét về phía Nam là di tích Lầu Ông Hoàng, lúc đầu còn nói lấp lửng, sau nhiều lần nói dối, số người tin nhiều hơn, rồi một vài bài báo cũng nói y như vậy. Đến lúc này, câu nói lấp lửng trước kia đã trở thành lời tuyên bố chắc nịch: "Nơi đây là...Lầu Ông Hoàng!" và không ai nghi ngờ gì về sự trung thực của nó. Nếu ai đã từng đến thăm cái nơi Lầu Ông Hoàng giả tưởng này, sẽ rất dễ bị thuyết phục, vì bờ tường đồn bốt của Tây và sau này là Mỹ, xây rất dầy và chắc chắn; cùng với hệ thống hầm ngầm thông nhau giống như hệ thống hồ chứa nước dưới nền lâu đài với mục đích điều hòa nhiệt độ và chứa nước dùng quanh năm, giống như những gì mà các tài liệu mô tả về Lầu Ông Hoàng. Việc này cần phải sớm đính chính lại cho đúng và "trả lại tên cho em". Bài viết của tôi sẽ không đủ sức làm việc này. Nó chỉ như là một sự gợi ý để cho mọi người, những người tôn trọng sự sự thật, có lòng yêu mến sâu xa huyền thoại Lầu Ông Hoàng tiếp tục tìm hiểu một cách khách quan để "của César hãy trả lại cho César"...
Phế tích Lầu Ông Hoàng (thật), cách Tháp Po Sah Inư khoảng 800 mét về phía Đông,
nằm cạnh Con đường nhỏ vào tổ (...), khu phố 5, phường Phú Hài.

Nền lâu đài nhìn từ phía Tây Nam
Bậc cấp lên lâu đài
Một bờ móng của lâu đài
Nền móng lâu đài nhìn từ hướng Đông Nam
Nền móng lâu đài nhìn từ hướng Nam (phía trước nhìn xuống biển))

Nhà dân xây giữa lâu đài
Ngay cả tên gọi Tháp Pô Sah Inư cũng không được chính danh cho lắm. Theo các tài liệu về đền tháp Chăm ở Việt Nam, thì trước thế kỉ XX, tháp này có tên Tháp Phố Hài (thờ thần Shiva, theo Ấn Độ giáo). Từ năm 1992 đến 1995, công cuộc khai quật quanh Tháp phát lộ ra đền thờ Pô Sah Inư (công chúa Chăm có công lớn với dân tộc mình), theo đúng như truyền thuyết, được xây dựng vào thế kỉ XV. Từ đó, ngành quản lí văn hóa của tỉnh đổi tên thành "Nhóm đền tháp Pô Sah Inư". Theo tôi, Tháp Phố Hài được xây dựng trước đền thờ Pô Sah Inư hơn 600 năm; mặt khác, đền thờ đã sụp đổ hoàn toàn và bị chôn vùi hàng trăm năm nay, chỉ còn lại dấu vết qua khai quật. Do vậy, ngay cả việc gọi là "đền" cũng không phù hợp, vì giờ đây "đền" không hiện hữu mà đã thành di chỉ khảo cổ rồi. Tên gọi hợp lí nhất cho quần thể di tích này làm thế nào để có sự rạch ròi, tách bạch cả hai di tích: Tháp Phố Hài và di chỉ đền thờ Pô Sah Inư.
Tôi đã tham khảo ý kiến của một số trí thức đáng kính trưởng thành trước 1975 ở địa phương. Họ đã nhất trí với tôi khi chọn tên của quần thể di tích này là: "Quần thể (hoặc cụm) di tích tháp Phố Hài và di chỉ đền Pô Sah Inư"
Những ngọn đồi đẹp chung quanh chỗ nhóm lãng tử chúng tôi ngồi uống rượu dưới trăng này, giống như một trang sách mở của thiên nhiên, theo dòng thời gian, đã ghi chép những gì mà con người qua bao thời đại đã để lại bằng dấu vết vật chất tại đây, hay bằng những câu chuyện đã trở thành huyền thoại trong trí nhớ của cộng đồng. Những ai đến đây, nếu có chung mối đồng cảm, sự quan hoài về lẽ nhân sinh, sẽ dễ dàng nhận ra được sự tập trung nhiều chứng tích chồng lớp lên nhau với mật độ cao, như muốn hiển lộ chứng minh cho sự biến dịch vô thường của trời đất, của kiếp người, nhằm làm sáng tỏ chân lí tối hậu của cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của cái sinh ra và mất đi, những cuộc hạnh ngộ rồi chia li, những sung sướng rồi khổ đau, những hạnh phúc rồi tuyệt vọng... Và dù rằng khi còn sống, con người có tranh đoạt, chém giết lẫn nhau vì những động cơ, lí do bất kì nào chăng nữa; thì cuối cùng cũng phải trở về bên nhau, nằm bên nhau, "sống" hòa với cát bụi để cùng xanh một màu cỏ với mùa xuân... Tiếp nhận được điều đó sẽ giúp chúng ta thấy yêu hơn cuộc sống này, biết sống và sống tốt đẹp hơn.
Có lẽ cụ Nguyễn Thông đã sớm nhận ra điều huyền diệu đó nên đã chọn nơi đây làm nơi trở về, tự nguyện làm một trang trong quyển sách thiên nhiên kì bí nhưng luôn sáng tỏ kia. Vì vậy, cụ đã cho xây trước ngôi mộ và tự viết sẵn lời văn sẽ khắc trên bia mộ của chính mình: "Năm Đinh Sửu (tức năm 1877- người viết), tôi làm Bố chánh Bình Thuận thường xuống các huyện, nhân đi qua thôn Ngọc Lâm, phía Đông phủ Hàm Thuận, lên cao nhìn quanh, thấy sông núi có tình, tôi lấy làm thích, đứng nhìn lâu không chán (...). Vì thế tôi bảo học trò Nguyễn Văn Đường nhặt đá núi, thuê thợ xây đắp (...). Mộ xây xong (...), ở trong bỏ trống để đợi khi dùng đến. Sau lúc tôi trăm tuổi, chẳng biết hồn phách còn nhớ đến núi này nữa hay không, hay là rồi cũng tiêu tán hết? Điều ấy không thể biết được. Nhưng hoa rừng trăng bể, buồm ngư phủ, nhà tiều phu vẻ lạ khói mây đổi thay, hình thù giao thẫn(5) chập chờn, thì sau này vẫn có thể cống hiến một cuộc thích mắt cho những nhà thơ tới đây viếng cảnh vậy"(6). Nguyễn Thông đã tiên tri đúng những việc sẽ diễn ra sau này. Đó là có biết bao nhà thơ, nghệ sĩ đã gởi một phần hồn của mình ở nơi đây...
Tối hôm đó, chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, nhìn lại phía sau lưng mình là cả một "thành phố của bóng tối" - nghĩa trang Phan Thiết; nơi tiếp nhận sự hủy diệt cuộc sống để làm cho cuộc sống mới tiếp tục sinh sôi và phát triển, như nguyên lý quyền năng của thần Shiva. Những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết - Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên màu của cõi bình yên lặng lẽ. Tôi lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh, chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử (7), tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng. Có lẽ tôi cũng muốn "điên" như Tử chăng? Bỗng nghe bạn tôi khe khẽ cất lên lời hát giữa mênh mông như để tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh:"Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân... Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng..." (8)
Cách nay mấy năm, ngành chức năng quản lí về văn hóa và du lịch thực hiện thu âm đĩa CD tuyển chọn những bài hát hay về Bình Thuận, nhằm mục đích quảng bá văn hóa Bình Thuận đến với mọi người trong cả nước, trong đó có mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh. Rất tiếc là những người tuyển chọn đã không chọn một bài bài hát gắn với Bình Thuận mà cho đến nay (và có lẽ cả mai sau- tôi nghĩ như vậy) hầu như ai cũng đã ít nhất một lần nghe qua, vẫn còn nhớ và có thể còn hát được (nhất là hát karaoke, hát trong các cuộc liên hoan, giao lưu văn nghệ, kể cả trong các bữa nhậu...). Đó chính là bài "Hàn Mặc Tử" của Trần Thiện Thanh: "Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng. Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương. Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người. Tìm về nửa đêm buồn...". Nhiều người khi nhắc đến bài hát này, đôi lúc quên tựa, bèn gọi đó là bài "Đường lên dốc đá". Chắc tác giả bài hát trên cũng không cần có tên mình trong tuyển tập. Cần hơn có lẽ chính là những người bình thường nhưng yêu mến quê hương Phan Thiết, Bình Thuận. Đối với ngành du lịch, ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, không vì vậy mà bị thiệt thòi về doanh thu. Nhưng, nếu bài hát đó càng được hát lên, vang xa chừng nào thì cụm di tích được xem là một trong những địa chỉ du lịch điểm nhấn của Bình Thuận: Lầu Ông Hoàng và Tháp Chăm Pô Sah Inư, càng thêm nổi tiếng, càng được nhiều người biết đến, cũng đồng nghĩa với việc thu hút thêm nhiều khách du lịch đến với Bình Thuận. Ngay tại địa điểm du lịch này, tôi đã từng gặp những em nhỏ bán đĩa CD lậu có bài hát "Hàn Mặc Tử" mời chào mua giúp.
Phan Thiết - thành phố nhỏ ven biển xinh xắn này, trôi theo dòng thời gian, đã thành kỉ niệm khó quên của bao người thuộc nhiều thế hệ, có thể là con dân của Phan Thiết, sinh ra và lớn lên ở đây hoặc không là gì với Phan Thiết cả. Kỉ niệm đó có thể là do sự gắn bó hữu hình hoặc chỉ là vô ảnh. Nhưng tất cả đều hằn sâu dấu vết trong kí ức của họ...
Đối với hoàng thân Xu- pha- nu- vông(9), dù là khi đang sống ở quê vợ Nha Trang hay đang giữ vị trí nguyên thủ quốc gia (Lào), chắc ông không thể nào quên được hình ảnh Tháp Nước Phan Thiết (Château d'eau) được xây dựng đúng theo bản vẽ thiết kế chứa nhiều tâm huyết của mình. Một công trình được giới kiến trúc trong nước đánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nam. Năm 2007, có một nhóm sinh viên Lào theo học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thiết kế và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không thể nào tưởng tượng được, ở một nơi xa xôi trên đất nước Việt Nam lại ghi đậm dấu tích thật đẹp của vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân cách lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào hết sức kính yêu. Và có lẽ đây cũng là một chút tình khó quên của các em sinh viên Lào đối với Phan Thiết, với Việt Nam.
Nhà thơ Bích Khê đã sống nhiều năm ở Phan Thiết (10). Trong thời gian này, ông vừa tự học, vừa dạy học, vừa tập trung nhiều tâm huyết cho sáng tác thi ca. Tại đây, ông đã hoàn thành tập "Tình huyết" (1939), một tập thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Bích Khê, được Hàn Mặc Tử đón nhận như "Một bông hoa lạ nở hương" khi viết lời tựa cho tập thơ này. Đặc biệt, với Phan Thiết, nhà thơ đã đa mang nợ tình ái... Ngày 20 tháng 9 năm 1940, Bích Khê vào Viện Phong Quy Hòa thăm Hàn Mặc Tử. Lúc này, hai người bạn thơ thân thiết đều mắc bệnh nan y (Bích Khê mắc bệnh lao). Cả hai chắc là dễ dàng cùng nhau ôn lại những kỉ niệm về tình yêu nơi Phan Thiết. Hàn Mặc Tử thì nhắc đến Mộng Cầm. Còn Bích Khê thì nhắc đến tên của ba người con gái xứ Phan mà mình đã yêu. Một Song Châu, cô học trò (trường tư thục Hồng Đức) của thầy giáo Bích Khê, tuổi đang thì xuân chớm, đã làm cho nhà thơ:
Tôi đắm hồn tôi cho chết say
Như hoa mảnh khảnh xác thu gầy
Ở trong cặp mắt như châu ấy
Và biến ra châu lã chã đầy...
(Châu)
Một Ngọc Kiều chín chắn nồng nàn, mà giữa cơn say tình ái, Bích Khê đã thốt lên trong một bài thơ đề tặng Hàn Mặc Tử:
Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt
Ngọc Kiều ơi! Này khúc Lạc Mai Hoa
Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết
Ta tê mê, ta gảy điệu Tỳ Bà...
(Mộng Cầm ca)
Và tiếp theo là mối tình câm lặng với một sương phụ, cô giáo dạy cùng trường (tư thục Quảng Thuận), là bạn của người chị ruột mình, mà cho đến ngày Bích Khê ra đi vĩnh viễn, Minh Sim (tên của người ấy) mới biết qua những bức thư không bao giờ gởi đi của nhà thơ, do chị của Bích Khê trao lại...
Trong những ngày vật vã với cơn bệnh trầm kha cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng tại nhà thương Quy Hòa, bóng dáng thướt tha yêu kiều của người con gái Phan Thành có tên Mộng Cầm kia cùng với Lầu Ông Hoàng mơ mộng những đêm trăng tàn, trăng rạng, chắc rằng nhà thơ "điên" Hàn Mặc Tử khôn nguôi nhớ về một mối tình vô vọng:
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư .
(Phan Thiết Phan Thiết- Hàn Mặc Tử)
Với Hữu Thỉnh (11) thì lại khác. Trước năm 1975, nhà thơ chưa hề làm quen với Phan Thiết và nếu có biết chắc cũng chỉ hiểu đơn giản đó là địa danh cuả một thị xã miền Trung bình thường như Phan Rang, Tuy Hòa. Nhưng..., khi nhận được tin anh trai mình hy sinh vào năm 1973 tại Phan Thiết (năm 1975 mới biết tin) và sau nhiều lần cố công đi tìm nhưng vẫn không thấy được hài cốt của anh, năm 1981, ông viết bài thơ "Phan Thiết có anh tôi":
... Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi...
Em đã qua những cơn sốt anh qua
Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp
Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết
Em một mình đứng khóc ở sau xe...
Nhà thơ Hữu Thỉnh hẵn sẽ không thể nào quên được địa danh Phan Thiết, vì một lẽ hiển nhiên: "Phan Thiết có anh tôi".
Phan Thiết xưa đã từng là nơi sản sinh những nhạc sĩ tài hoa có bài hát để đời, như: Minh Quốc (bài hát "Tình đồng chí"), Nguyễn Hữu Thiết (bài "Gởi người tôi yêu"), như Dzũng Chinh (các bài "Những đồi hoa sim", "Tha La xóm đạo")... và Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường với những nhạc phẩm nổi tiếng một thời và hiện nay vẫn đang được các ca sĩ hát thu vào đĩa CD, DVD, như: Khi người yêu tôi khóc, Lâu đài tình ái, Hoa biển, Chiếc áo bà ba, Hàn Mặc Tử...
Biết bao người sinh ra và lớn lên tại Phan Thiết, do hoàn cảnh đẩy đưa đành phải li hương, tìm thế sống nơi quê người. Dù cuộc sống ở đất khách có được may mắn, dư dã sung sướng về vật chất bao nhiêu chăng nữa, thì họ luôn cảm thấy có một khoảng trống trong tâm hồn không gì có thể lấp đầy được. Khoảng trống đó chính là quê hương cố cựu. Họ không bao giờ có thể quên được cội nguồn hoặc đánh mất kí ức thời tuổi trẻ nơi quê xưa, một phần quan trọng trong cuộc đời của mình. Lí Bạch (đời Đường, Trung Hoa) được người đời tôn là bậc thi tiên. Gần như cả cuộc đời ung dung, ngạo mạn, ngao du sơn thủy và làm thơ, nhưng trong lòng ông luôn ẩn giấu một nỗi niềm nhớ cố hương sâu lắng như mặt trăng kia vẫn còn đó nhưng chỉ tạm khuất đi trong một số ngày trong tháng hoặc chỉ bị mây che lấp mà thôi. Rồi vào những đêm trăng sáng, nỗi niềm đó lại trồi lên trên bề mặt cảm xúc, chảy tràn lai láng không gì ngăn lại được:
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương (12)
Chung một mối quan hoài như Lý Bạch; Trần Vấn Lệ (13), nhà thơ người Phan Thiết hiện đang sống nơi đất khách quê người, cũng đã nói hộ cho tất cả những ai có cùng tâm trạng tha hương, luôn đau đáu khôn nguôi nhớ về cố hương Phan Thiết bằng những câu thơ đẫm tình tha thiết:
"Hè rồi... Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông. Con sông đầy xác hoa vông rụng quấn quyện chân cầu không muốn trôi... Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ, đi đâu, có thể cuối chân trời! Phan Thiết của tôi và của bạn, sáng nay ai nói rất buồn hiu. Tôi ngồi với bạn bên hè phố, khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều! Chút khói chiều vương vương hoa vông. Phan Thiết khi không nhớ não nùng. Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch, bạn buồn khuấy mãi muỗng koong koong... Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa, con ngựa đôi khi hí giữa đường. Giờ, giữa đường đây, trời đất khách. Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương..." (Mùa vông Phan Thiết cũ).
Còn tôi, ngồi viết những dòng chữ này, thử hình dung mình đang sống trong hoàn cảnh như Lí Bạch, như Trần Vấn Lệ và những ai khác nữa xa quê... Khi đó, mặc dù tôi không thể biểu đạt được nỗi niềm "tư cố hương" bằng những câu thơ tuyệt vời như trên; nhưng chắc chắn, với tôi, đó không phải chỉ là "một chút tình Phan Thiết"... Viết đến đây, bàn tay tôi run lên, lòng đã muốn khóc rồi, Phan Thiết ơi!./.
________________________________________________________________________________________
(1):Tháp Pôshanư (Pô Sah Inư - còn gọi là Tháp Chăm Phố Hài) là một nhóm di tích đền tháp Chăm còn sót lại của Vương quốc Chăm Pa xưa, nằm trên đồi Bà Nài, thuộc phường Phú Hải, cách trung tâm thành phố Phan Thiết 7 km về phía Đông Bắc. Nhóm tháp này có phong cách kiến trúc Hòa Lai - một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Chămpa. Tuy chỉ có kích thước vừa và nhỏ, nhưng nó chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí của người Chăm xưa tạo nên vẻ uy nghiêm và kỳ bí. Nhóm đền tháp Po Sah Inư là một trong những cụm tháp Chàm còn tương đối nguyên vẹn. Khoảng cuối thế kỷ thứ 8 đầu thế kỷ thứ 9, người Chăm xây dựng nhóm đền tháp này với mục đích để thờ vị thần Shiva - là một trong những vị thần Ấn Độ giáo được sùng bái và tôn kính. Thế kỷ 15, xây dựng thêm một số đền thờ với kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Po Sha Inư. Công chúa Po Sha Inư (con vua Para Chanh) là người có tài đức và phép ứng xử nên được người Chăm đương thời yêu quý. Năm 1992-1995, những cuộc khai quật khảo cổ tại nơi này đã phát hiện ra nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ 15. Từ đây tháp có tên gọi là Po Sah Inư.Từ năm 1990 đến năm 2000, di tích được chính quyền tỉnh Bình Thuận tu bổ, tôn tạo. Năm 1991, di tích này được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Tháng giêng âm lịch hàng năm, dưới chân tháp đều có diễn ra các lễ hội như Rija Nưga, Poh Mbăng Yang... Người Chăm làm lễ cầu mưa, cầu an..
(2): Cái tên Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier, cháu nội hoàng đế Pháp chính là nguồn gốc của địa danh Lầu Ông Hoàng ngày nay. Vào năm 1910, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhìn thấy phong cảnh tại những ngọn đồi phía Đông Phan Thiết rất đẹp, đứng ở đây có thể phóng tầm mắt về phía Nam chừng 1 km, thấy rõ những ngọn sóng biển lao xao. Ông đã mua lại từ nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) quả đồi Bà Nài, chọn mảnh đất rộng ở độ cao cách mặt biển 107m, gần Tháp Pôshanư về hướng Đông chừng 500 m để xây dựng biệt thự, làm nơi nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Gần biệt thự còn có các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho giới thượng lưu. Toàn bộ cụm 5 ngọc đồi quanh biệt thư của Công tước De Montpensier, sau đó được gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đây là nơi tạo nên huyền thoại về mối tình thơ lãng mạn Mộng Cầm- Hàn Mặc Tử, đã làm tốn biết bao giấy mực của người đời sau. Ngày 21-2-1911 biệt thư được xây dựng, nền móng được xây bằng đá xanh, cao 2m, với 15 bậc cấp lên xuống, sàn nhà lót gạch bông, phía dưới nền là hệ thống những bể chứa nước mưa lien kết nhau, chung quanh đúc bê tông, có máy bơm dẫn nước lên một lầu nước cao phiá sau, đủ dùng quanh năm suốt tháng. Nóc nhà lợp bằng đá phiến xanh được chở từ Pháp sang, vừa đẹp lại không sợ bị gió biển làm tróc mái. Biệt thự có diện tích 536m2, gồm 7 phòng ngủ và 6 phòng dành cho khách, phòng thết tiệc... Phòng nọ tiếp với phòng kia qua hành lang có mái che. Bên trong các phòng kể cả tiền đình được trang trí sang trọng, tiện nghi. Giường ngủ, bàn ghế, tủ đều đóng bằng loại gỗ quý. Riêng giường có nệm, chân giuờng gắn gù đồng. Có đường trải đá từ dưới chân đồi chạy quanh co, lối vào trước sảnh đường có trồng cây giữ bóng mát cho biệt thự. Bên ngoài tường rào được thả dây leo ăng- ti- gôn nở hoa màu hồng rực rỡ. Ngoài ra còn có nhà máy phát điện riêng, nhà để xe, chuồng ngựa, nhà bếp, nhà tắm, bể chứa nước.
Sau ngày khánh thành, chủ nhân ông Ferdinand D'orléans chính thức đặt tên ngôi biệt thự của mình là ‘NID D'AIGLE' tức là Tổ Chim Ưng. Trong kháng chiến chống Pháp, tòa biệt thự bị bom đạn làm sụp đổ hoàn toàn.
(3): xem chú thích ở bài "Phan Thiết có mùa xuân bông vông đỏ" trong tâp này.
(4): Tháp nước Phan Thiết được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào đầu năm 1934, do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Lào) thiết kế, do nhà thầu Ưng Du đảm trách thi công. Đây là kiến trúc độc đáo nhất trong những công trình tháp nước ở Việt Nam. Hoàng thân Xu- pha- nu- vông sinh năm 1909. Năm 11 tuổi, ông sang Việt học tại trường Albert Sarraut. Năm 1920, sang học tại Pháp. Tốt nghiệp đại học quốc gia cầu đường Paris, trở thành kỹ sư cầu đường đầu tiên ở Đông Dương. Ông về Trung kỳ (Việt Nam) công tác, đã từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng khu Công chánh Nha Trang. Ông thiết kế nhiều công trình thủy lợi trên đất Việt Nam, trong đó có 7 công trình cho đến nay vẫn đang còn sử dụng, tiêu biểu như: Tháp nước Phan Thiết, đập Đô Lương, đập Thanh Chương (Nghệ An), đập Bái Thượng (Thanh Hóa)... Ông lấy vợ là người Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kỳ Nam, người Nha Trang. Ông gặp Hồ Chí Minh, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu sự nghiệp cách mạng. Ông trở thành Chủ tịch Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ tháng 12 năm 1975 đến tháng 8 năm 1991. Ông qua đời ngày 09 tháng 01 năm 1995.
(5): Giao là con thuồng luồng; thẫn là loài ngao bể.
(6): Trích "Bài kí ở mộ tại Ngọc Sơn" của Nguyễn Thông trong tập "Nguyễn Thông- con người và tác phẩm" do Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang sưu tầm và biên soạn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1984.
(7): Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử (tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22/9/1912 - mất 11/11/1940) là một trong những nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, thường được gọi là phong trào "Thơ mới) và cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Trong thời gian ông làm việc ở Sài gòn, năm 1923, ông cộng tác với tờ báo Công luận, phụ trách trang thơ. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi bài cho báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, ròi ông ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người. Lầu Ông Hoàng là chứng nhân của mối tình thơ mộng nhưng tuyệt vọng đó. Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó, Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này, khi mới bước sang tuổi 28. Tác phẩm nổi tiếng của Hàn Mặc Tử: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý...
(8): Trần Thiện Thanh sinh 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết, là hậu duệ của nhà nho yêu nước Trần Thiện Chánh (1822- 1874). Sống tại Phan Thiết đến năm 1958, vào Sài Gòn lập nghiệp và sớm nổi danh. Bút hiệu ông thường dùng là Trần Thiện Thanh, nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông) là một nhạc sĩ chuyên viết về nhạc trữ tình. Ông còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường. Trần Thiện Thanh - Nhật Trường là một trong những nhạc sĩ và ca sĩ nổi tiếng nhất ở miền Nam giai đoạn trước 1975. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam, California, Hoa Kì vì bệnh ung thư.
(9): xem chú thích (4) trên đây.
(10): Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn), tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Bích Khê xuất thân từ một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh yêu nước cách mạng. Ông học bậc trung học ở trường dòng Pellerin tại Huế. Năm 1933, ông vào Phan Thiết sống với gia đình người anh trưởng. Năm 1934, Bích Khê cùng một người bạn (người Phan Thiết) mở trường tư thục Hồng Đức. Năm 1935, ông bỏ trường về quê. Năm 1938, ông trở lại Phan Thiết dạy học tại trường tư thục Quảng Thuận (do ông Nguyễn Quý Hương mở). Năm 1939, trường bị Pháp đóng cửa (vì có liên quan đến cộng sản), ông về lại Quảng Ngãi. Thời gian này ông bị trở bệnh lao phổi đã mắc trước đó, đến năm 1942 thì bệnh rất nặng, kéo dài đến ngày 17/01/1946, ông qua đời ở tuổi 30. Những tác phẩm chủ yếu của Bích Khê: Tình huyết, Tinh hoa, Đẹp, Nấy dòng thơ cũ...
(11): Hữu Thỉnh: sinh năm 1942, nhà thơ. Hiện là chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm có tiếng vang của ông: Đường tới thành phố, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian...
(12): Đó là bài thơ "Tĩnh Dạ Tư" của Lý Bạch, nhà thơ danh tiếng Đời Đường, được người đời sau xưng tụng là thi tiên. Dịch nghĩa: Đầu giường ánh trăng soi sáng/ Ngỡ là sương rơi mặt đất/ Ngẩng đầu lên nhìn trăng sáng/Cúi đầu nhớ quê xưa.
(13): Nhà thơ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31-05-1942 tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, trưởng thành và dạy học tại Đà Lạt, hiện sống tại Hoa Kì. Ông đã cho in trên 10 tập thơ ở nước ngoài.
* * *
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
09/07,2010
Edit
Bản in
LỤC BÁT HỒN NHIÊN
Xin phép bà con cho tui tự PR cho mình chút xíu (không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới).
Số là, theo dự kiến, năm 2009, tui sẽ đem in tập thơ thứ ba. Anh em quen ở một số nhà xuất bản trung ương nói, cứ gởi bản thảo cho họ, có gì đâu, đừng ngại, gởi sớm để kịp đưa vào kế hoạch xuất bản. Tui hoàn chỉnh bản thảo trên máy và gởi file tập thơ cho một nhà xuất bản. Hoàn toàn im lặng, không có hồi âm. Tui gọi điện thoại, không thấy bắt máy. Biết là không ổn ở NXB thứ nhất, tui gọi điện cho người quen ở nhà XB thứ hai. Ừ, chuyện nhỏ như con thỏ, gởi bản thảo đi nghen! Sau khi gởi tác phẩm, được trả lời rằng tui phải thay 1/3 số bài vì "cộm" . Thành thật mà nói, tui cảm ơn NXB thứ hai này, vì ít nhất họ đã nói thật.
Tập thơ định xuất bản của tui là tập hợp những bài thơ nặng về chuyện thế sự mà tui đã viết trong hai năm qua, một phần đã được post lên ngodinhmien.vnweblog.com. Đành vậy! Thôi không in nữa. Tui nói điều này cũng không chủ ý trách móc gì các vị có trách nhiệm ở nhà xuất bản. Việc của trên giao cho họ là vậy. Nếu làm khác đi thì không phải là họ nữa, sẽ thành người khác, việc khác.
(Xem tiếp)
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
06/10,2010
Edit
Bản in

Toàn cảnh Tử Cấm Thành
II
Tử Cấm Thành của xứ tao còn to hơn, nếu...
Lên Vạn Lí Trường Thành, tôi thấy lạnh. Đến Tử Cấm Thành (Cố Cung), tôi thấy ngộp. Lạnh và ngộp vì quy mô và tính chất của công trình. Nó lớn quá, cầu kì quá, sang trọng quá và ... rất đẹp, hơn hẵn những gì mà tôi tưởng tượng hoặc thấy trên phim ảnh. Thật sự ấn tượng.
Tử Cấm Thành nằm ngay trung tâm thành phố Bắc Kinh, là cung điện của các triều đại từ giữa nhà Minh. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là "Cố cung bác vật viện". Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó, UNESCO đã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di sản thế giới vào năm 1987 với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương (tiếng Anh: Imperial Palace of the Ming and Qing Dynasties in Beijing and Shenyang). Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành được hoàng thành bao bọc xung quanh.

Một góc Tử Cấm Thành
(Xem tiếp)
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
05/05,2010
Edit
Bản in

I
Bất đáo Trường Thành phi... Hán nhân
Giữa tháng Tư vừa rồi, tôi được nhà nước cho một chuyến du lịch nước ngoài. Đây là chính sách của tỉnh, coi như một món quà an ủi cho những cán bộ (thuộc diện Ban TVTU quản lí) khi về hưu. Nước đến du lịch hợp ý tôi: Trung Quốc. Vậy là xếp va li quần áo, hộ chiếu hết hạn phải làm mới, nhận tiền tiêu vặt từ Ban TCTU, chuẩn bị các thứ lặt vặt, nhậu thông tàu xe với bạn bè... Vậy là vui vẻ lên đường. Tôi đã từng tới Trung Quốc hai lần. Lần đầu tiên vào năm 1992, tôi bước qua cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) vào đất Trung Quốc vài chục mét. Lần thứ hai, năm 1998, dài và lâu hơn. Tôi qua cửa khẩu Lào Cai, thăm thị trấn Hà Khẩu và thuê xe đi sâu vào Trung Quốc chừng 30 km, sáng đi, chiều về lại Lào Cai.
(Xem tiếp)
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
05/05,2010
Edit
Bản in

TUỔI BỐN MUƠI
Không có hoa tuổi hai mươi
Không có lúa tuổi ba mươi đến kì
Cây bốn mươi tuổi, thiếu nhi
Em bốn mươi tuổi, dậy thì lần hai...
Vẫn còn xanh tóc đỏ hài
Như đương hây hẩy nắng mai xuân đầy
Bốn mươi tuổi ngấm men cay
Chẳng có gió, lòng cũng bay rộn ràng
Hình như không chút vội vàng
Trễ tràng phía trước, muộn màng sau lưng
Kìa ai hoa hứng trứng nưng
Duyên phần xếp đặt không dưng vào vòng...
Hương tro còn ủ trong lòng
Chợt mai thức dậy phượng hoàng thoắt bay
Yêu nhiều lắm rủi ít may
Bốn mươi tuổi giấc trưa say ...nửa chừng
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
04/28,2010
Edit
Bản in
ĐU
Nhện ôm tơ lùa cửa sổ Người đi dây lưới xiếc đời
Miếng ăn nhện - hiếu danh người
Cùng nhau chơi trò đu gió...
Gót cao lắc bồng bông nhú
Lay lay đồi nhỏ mộng hồng
Em đu ngang đời người- thú
Yêu- tinh- tình, em biết không?
Mưa về đu mây đầu núi
Che lộng cho rừng ngủ trưa
Tâm hư hóa thân hạt nước
Lòng không nhẹ bỗng đong đưa...
Đu người đánh giữa trần ai
Có cuộc chơi nào to vậy?
Cõi này hay bến bên kia?
Đi đi, buông hình tâm thấy!
Giăng mơ ghẹo ngõ vườn xanh
Anh võng lòng mềm cọng cỏ
Ngày em đu hương theo đó
Sắc hoa hồn lá tròng trành
Cánh diều đu cao đầy gió
Buồm yêu khốn giữ dây lèo...
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
03/28,2010
Edit
Bản in

CHUYỆN BẦY ĐÀN
I
Chiều nay, tôi nhìn thấy một đàn côn trùng lạ trong vườn nhà tôi.
Đương trong cuộc bia bọt tưng bừng với các chiến hữu mừng cho thằng bạn vừa bỏ việc nhà nước về lập miễu tu tại gia, tôi chợt mót đi đái. Cái sự thoát ra... thoát ra..., thiệt là nhẹ nhàng cái bụng, sung sướng cuộc đời. Bỗng nhiên, tôi nghe như có tiếng kêu cầu cứu: "Dừng lại, dừng lại, xin đừng xả lũ nữa!". Tôi nhìn quanh quất, không thấy ai. Lạ lùng thiệt. Tiếng kêu lặp lại lần nữa. Tôi nhìn xuống, chả lẽ là bầy côn trùng này. Chúng vừa giống ong, vừa giống kiến, lại vừa giống mối. Bụng tròn không có eo, đôi càng bự, chỉ có một râu dài như cây giáo của chiến binh thời trung cổ, lại chắp thêm trên lưng đôi cánh mỏng như của loài ong, có màu đen than u ám, nên càng thêm lạ. Tôi đã từng tìm hiểu về các loài côn trùng khi làm "nghiên cứu sinh " ở "học viện đầu bờ" trên cánh đồng quanh năm thất bát vì đủ các loài côn trùng phá hại. Chúng đông nghìn nghịt cả triệu con chứ không ít. Cùng nhau hươ râu múa càng, rồi chúng lũ lượt kéo nhau đi về phương Nam, cuối cùng chúng ổn định đội hình, tập trung lại nơi một ụ mối dưới gốc cây sầu riêng . Nghiêm trang, những con to xác nhất leo lên tận đỉnh ụ mối, như biểu thị quyền lực cao nhất của mình. Đột ngột, chúng đồng loạt dựng râu lên nghe rào rào như người lính bồng súng chào, rồi cả rừng côn trùng ào ào tung hô: " Bầy đàn ta muôn năm vạn tuế". Đến lúc này, tôi mới khẳng định và thật sự kinh ngạc về khả năng kì diệu của chính mình, tôi nghe được tiếng nói của côn trùng. Chẳng lẽ do tôi thường xuyên hàng ngày uống rượu ngâm với mối chúa vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ để tăng cường sinh lực (gặm khoẻ như mối) mà sinh ra được khả năng kì diệu này chăng? Thôi, từ từ tìm nguyên nhân sau, bây giờ cần xem chúng đang và sẽ làm gì tiếp theo...
(Xem tiếp)
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
03/07,2010
Edit
Bản in

TRỞ LẠI LỀU HOANG
* Ai cũng cần lều hoang/ để một lần ngồi khóc (NHIÊN ANH)
Nhớ người, trở lại lều hoang
Phong sương giờ rách mái hoàng hôn xưa
Gió khô vừa rớt giọt thưa
Nghe ra tiếng dột cơn mưa đêm nào
Ngồi lên chiếc ghế hanh hao
Thở hơi bụi cũ nghẹn ngào nhện giăng
Nhìn dòng xưa chảy băn khoăn
Người đi mãi biệt bóng tăm sông chiều
Chợt ào lá trút liêu xiêu
Bay từ kí ức về nhiều nhớ nhung
Nỗi nênh ly biệt trùng phùng
Như mây qua mái lều rung tim người
Nào ai buông áo tay lơi
Đã đành phận, cửa khoá nơi duyên phần
Cơn mơ lạ cũng quen dần
Gối chăn rồi cũ tần ngần giấc ngoan
Nhớ người, trở lại lều hoang
Đâu người ngồi khóc để lòng ta đau...
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
02/08,2010
Edit
Bản in

CHẬM
Mưa dầm đất được thấm lâu
"Chậm mà chắc" đã thành câu nằm lòng
Thấy đời vui cứ thong dong
Vội chi, vấp núi rơi sông chuyện thường
Ái tình tiếng sét giữa đường
Cần nhiều vun đắp yêu thương rộng dài
Lên một rồi mới lên hai
Nào ai nhổ gốc đo cây cao liền
Vào mùa ngủ chú gấu hiền
Ngựa qua cửa sổ cũng phiền giấc đông
Đứng trên bờ rộng ngắm sông
Ngẫm con nước chậm hiểu dòng chảy xa
Nhịp mùa đi trong bao la
Mầm cây chậm lá, quả hoa đúng thì
Tuần hoàn bao cuộc thiên di
Bay trong vũ trụ người đi chậm dần
Tình yêu hoa hứng trứng nâng
Nào ai vô ý đem cân muộn mằn
Người nhanh ta chậm phân vân
Chậm một chút, bớt trăm lần ăn năn!
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
01/31,2010
Edit
Bản in
TẬP BAY
Ta đâu cần ăn ngon
Ta không cần áo đẹp
Ta chỉ cần tình yêu
Cần thêm nhiều bè bạn
Nhưng lại thật dại khờ
Đi yêu một nàng thơ
Ôi cô nàng đỏng đảnh!
Thơ đâu cần lấp lánh
Dị ứng với đại ngôn
Thơ không cần tuyên giáo
Đưa lối và dẫn đường
Thơ đâu cần số lượng
Nhiều chữ và rỡm lời
Thơ không cần đánh bóng
Quảng cáo giữa chợ đời...
Bài thơ mộc sần sùi
Hiền khô như đất thó
Phơi nắng và dầm sương
Cỏ cây mọc trên đó
Hoa cũng trổ từ đây
Hương thơm nương theo gió
Ta cùng thơ... tập bay
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
01/26,2010
Edit
Bản in
Trận động đất khủng khiếp ở Haiti, làm tôi nhớ trận động đất ở Tứ Xuyên, Trung Quốc vào tháng 5/2008. Lúc đó, tôi có bài thơ về thiên tai này, xin được chép lại, để tưởng nhớ nạn nhận của động đất Haiti.
CÔNG TRÌNH
Thiên nhiên được gọi tên tạo hóa
Vì làm nên tuyệt tác một công trình
Là con người - bông hoa vũ trụ
Đẹp hơn tất cả mọi thần linh...
Có gì thiêng liêng hơn hoài thai và sinh nở
Công trình mẹ sinh, một thế giới loài người
Con của mẹ, có nhà thơ và nhà xây dựng
Có người là thi sĩ của muôn đời
Có đứa suốt đời mơ ảo vọng
Lại có thằng giàu nhờ quỳ gối ôm đuôi
Mẹ thương lắm thằng nhà thơ chân thật
Vì làm sao nó sống được trên đời?...
Tác phẩm của những đứa con xây dựng
Bao công trình thế giới kì quan
Vườn Babilon, Kim tự tháp, Vạn lí trường thành
Chiến luỹ Palestin, tháp Trung tâm New York...
Và
Những công trình trường học tỉnh Tứ Xuyên!
Những người mẹ khóc con không còn nước mắt
Những người cha nấc nghẹn gọi con ơi...
Trăm trường học giờ ngổn ngang đá gạch
Nhà kiên cố chung quanh đứng lặng không lời
Con của mẹ có những thằng luôn đói
Phải ăn cả xi măng sắt thép công trình...
Biến trường học thành ngôi mồ tập thể
Cơn địa chấn vô tình chôn sống vạn sinh linh
Thiên nhiên kia vốn mang mầm hiểm họa
Huỷ diệt chính bông hoa đẹp nhất của mình
Mẹ có phải là người mắc lỗi?
Hay tạo hoá xem đây cũng là một công trình?
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
01/22,2010
Edit
Bản in
MUA MAI NGÀY TẾT
Sáng 26 Chạp, ăn cắp giờ làm việc của nhà nước, tôi đi tìm mua cây mai chưng Tết. Con đường bờ sông trước cơ quan tôi làm việc tràn ngập đủ thứ mai; từ mai cội già giá bán 5 - 10 triệu một cây, đến mai cắt cành vài trăm ngàn một nhánh, "bèo" nhất là mai chiết cành thân to bằng ngón út, uốn éo một chút cho có vẻ giống bonsai chỉ bán với giá mấy chục ngàn một chậu. Quanh quẩn một hồi, tôi cũng tìm được cây mai ưng ý. Ưng ý vì nhiều lẽ; một là, kích cở chậu mai nhỏ gọn, có thể đặt ở góc tường, trên bàn hoặc ở một vị trí nào đó chiếm không gian khiêm tốn, phù hợp với phòng khách hẹp như nhà tôi; hai là, dáng cây mai này hơi đặc biệt, nó vừa có thế ngã dài như thác đổ, vừa xoè tán, phân nhánh vững chãi theo ngôi thứ cuả một gia đình "tam, tứ đại"; thứ ba, búp mai phân bố đều đặn về không gian và thời gian, nghĩa là, mai sẽ nở đều trên tất cả các nhánh cây và đủ để tuần tự nở trong nhiều ngày kế tiếp nhau, không xả láng nở một lần rồi sạch bông; thứ tư, một vài bông nở sớm cho thấy, đây là loại mai có bông to, đẹp, cánh xếp dày, đều, kín, từ 6 đến 12 cánh, màu vàng rực ( tôi không thích bông mai chỉ có 5 cánh, nở một cách hổng hẻo, mỏng mảnh như là sự thiếu tự tin và hời hợt...). Thứ năm, bông mai nở toả hương đậm (hiện nay, nhà trồng mai để bán thường sử dụng nhiều phân hoá học, thuốc kích thích tăng trưởng...nên bông mai mất đi rất nhiều hương " hữu xạ")...
(Xem tiếp)
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
01/15,2010
Edit
Bản in
XUÂN KHƠI
Xuân khơi, chẳng biết viết gì
Rỗng tờ giấy trắng vô vi nói lời
Ô hay ròng rã một đời
Cày sâu luống nghĩ đào khơi tấc lòng
Đi đụng núi về gặp sông
Trái tim mảnh giữa mênh mông cõi tình
Ta ơi, nào dám phụ mình
Yêu cho hết kiếp phù sinh rũ rời
Thì thôi đã dỡ dang rồi
Sinh ra nhằm tuổi rong chơi thường thường
Không biết nhún chỉ biết nhường
Thương nhiều phận mỏng cánh chuồn nhân gian
Gió vui chạy trước lang thang
Bão buồn đăng đẵng muộn màng đến sau
Vết thương chậm ngấm càng đau
Cỏ mềm mưa giọt xanh màu gỉ han
Ta nào đo được thời gian
Ới ời ơi hỡi mang mang kiếp người
Vào rừng chơi với đười ươi
Buồn vui cổ thụ khóc cười nhân gian
Lời xuân khơi chảy miên man
Năm cũ hết, biết sang trang, viết gì?
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
01/04,2010
Edit
Bản in
Bài thơ NGUYÊN NHẬT của Lê Cảnh Tuân
Ngày Tết trong nhà tù của giặc Minh, nhớ về cố hương, Lê Cảnh Tuân gửi nỗi lòng mình trong bài thơ Nguyên Nhật (Ngày đầu năm).
NGUYÊN NHẬT
Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị,
Lão tận cố hương mai
(Hoàng Việt thi tuyển - Bùi Huy Bích)
Dịch nghĩa:
NGÀY ĐẦU NĂM
Khách còn ở lữ quán
Mùa xuân năm ngoái nay trở lại
Ngày về biết chừng nào đây
Cây mai ở quê cũ chắc đã già hết
Không rõ Lê Cảnh Tuân sinh năm nào, chỉ thấy sử sách ghi ông mất năm1416. Lê Cảnh Tuân có tên chữ là Tử Mưu, hiệu là Tỉnh Trai, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thanh Hóa. Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh vào năm Canh thìn (1400), dưới triều Hồ.
(Xem tiếp)
Posted to Bình & Luận
12/27,2009
Edit
Bản in

TỨ TUYỆT HOA ĐÀ LẠT
MAI ANH ĐÀO
Ngày xưa người ta ồn ào về Đà Lạt
Vì có hoa anh đào nở lúc Giáng sinh
Bên hồ Xuân Hương nay người về thấy khác,
Lặng lẽ anh đào nở nín thinh!
HỒNG TỈ MUỘI
Đà Lạt có tường vi và hồng tỉ muội
Tiễn em theo chồng chị rất vui,
Chị đã mất tình đầu, ba mươi tuổi
Nghỉ hưu rồi, trồng tỉ muội phỉ phui ...
XOAN ĐÀO
Có một loài cây, màu hoa hồng nhạt
Người đi đường ngồi bóng cây hóng mát
Đâu biết hoa rơi nuối tiếc cuộc tình
Hoa xoan bên thềm(*), bay như cánh hạc...
____________________
(*): Nhớ bài hát xưa " Hoa xoan bên thềm cũ"
của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
HOA NGŨ SẮC
Tròn xoe đủ năm màu khoe sắc
Sao lại gọi "trái tim đàn bà" ? (*)
Cầm nụ hoa mà lòng ẩn trắc,
Cánh rụng hết rồi, trơ cuống hoa!
_________________
(*): Người Pháp còn gọi hoa ngũ sắc là
"trái tim đàn bà" (Le coeur de la femme)
HOA HỒNG
Mọi người thích hoa hồng vì hương và sắc
Đâu biết đời hoa đau khổ phong ba
Em đã lớn muốn nở bung hết cánh ,
Người lại dùng giấy bọc- nén đời hoa ? (*)
__________________
(*): Nhà vườn và người bán hoa hồng đều dùng
giấy bọc ép hoa không cho nở bung cho dễ bán.
HOA QUỲ
Ta về đây xứ sương mù
Trả cho ta nửa mùa thu nắng vàng
Quỳ hoa ơi, cứ mãi vàng
Để ta làm nắng hoang mang giữa đời...
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
12/22,2009
Edit
Bản in

BẾN TẮM
Trong chuyến đi làm việc với các trường vùng cao vào những ngày cận tết, tranh thủ lúc nghỉ trưa, tôi lững thững dạo quanh các buôn bà con dân tộc K' ho sinh sống. Những ngôi nhà xây gạch đã nhiều hơn, làm cho bức tranh buôn làng thêm màu sắc, màu đỏ của tôn mạ màu lợp mái, màu xanh, màu hồng của sơn tường, lại điểm xuyết thêm màu bạc lóe sáng phản chiếu ánh mặt trời của những chảo ăng ten bắt sóng truyền hình kỹ thuật số. Các buôn làng vùng cao giờ đã lên đời. Tôi cố tìm, nhưng hình như không còn ngôi nhà chính nào của gia đình là nhà sàn làm bằng gỗ và tre nứa nữa cả, chỉ còn một số người già không quên nếp nhà tâm linh dân tộc, nên bảo con cháu làm cho một cái nhà sàn nhỏ bằng chừng vài ba chiếc chiếu, nằm khuất phía sau nhà chính, để ngủ vào buổi tối có bếp lửa ấm trên sàn... Tôi cảm thấy hơi buồn. Những biểu tượng của bản sắc dân tộc đã dần bị mai một. Chẳng lẽ, mục đích đưa đời sống bà con vùng cao tiến kịp miền xuôi, cuối cùng là như vậy sao? Loanh quanh thế nào, con đường bê tông nhựa xuyên qua giữa các buôn lại đưa tôi ra bờ sông La Ngà. Đúng giữa trưa nắng chan chan, nhưng ngọn gió của mùa đông cao nguyên thổi lồng từ sông lên, nghe lành lạnh. Trong lòng tôi lại hình như đang lan tỏa một luồng hơi ấm. Hồi ức về một thời xa lắc xa lơ tưởng đã chìm sâu, ngủ quên trong tiềm thức, bỗng nhiên thức dậy, rồi tràn ngập trong toàn bộ cảm thức của mình.
(Xem tiếp)
Posted to TRUYỆN VÀ KÍ Ngô Đình Miên
12/19,2009
Edit
Bản in

TIỄN BẠN LÊN CHÙA
Nắng đã ruộm vàng trên bến sôngTiễn bạn chiều nay nặng tấc lòng
Đâu phải phải biệt ly bờ sông Dịch
Tịch tịch Cà Ty đẫm hôn hoàng...
Tình như ngọn gió triều ảo ảnh
Sóng vỗ thời gian biết hư hao
Ròng rã trường canh ôm nguyệt lạnh
Bạn ngẫm đời mình giấc chiêm bao
Tuổi sáu mươi bạc đầu vọng tưởng
Giật mình thoáng chốc chỉ hư không
Thất tình lục dục người vay mượn
Bình bát nợ duyên trả cửa không
Thèm uống cùng nhau trăm chén rượu
Để bạn ấm lòng lúc sôi kinh
Bạn đi chắc lòng quên sắc thụ
Nẻo về hữu ý thức vô minh?
Đèn đã lên rồi trên cửa sông
Xuồng câu thao thức với biển đông
Bạn dong thuyền độ buồm bát nhã
Lòng buồn, ta hỏi bạn: vui không?
Ta lùa bầy dê lên chân núi
Chiều chiều đón bạn xuống lều tranh
Dốc cạn bụi trần bầu tục luỵ
Cười vang tự tại uống vô thanh...
Posted to THƠ Ngô Đình Miên
12/15,2009
Edit
Bản in
Tự giới thiệu
Ngô Đình Miên
Quê & Trú: Bình Thuận
" Đời ta đủ thứ lông rông
Bỗng dưng chớt nhớ như không có gì"
Trang chính
Các chủ đề gần đây nhất
Các góp ý gần đây nhất
- lthuong: @ Thầy giáo Ngô Đình Miên
- Võ Xuân Phương: Xin chung vui với bạn đã có tác phẩm in, giáo viên mà in truyện là tiết...
- ngodinhmien: CATBIEN!
Rất vui với lời chúc mừng của CB!
Chúc bình an và ngày...
- ngodinhmien: @ HOÀI KHÁNH!
Cảm ơn Hoài Khánh!
Chúc ngày chủ nhật thật vui!
- ngodinhmien: @ THẢO!
Cảm ơn Thảo!
Anh đang vui vì "mẹ tròn con vuông"! ...
- catbien: Tập sách mới là một tập bút ký dày 260 trang, gồm 16 bút ký, do nhà xuất...
- Hoài Khánh: Xin được chung vui với ông anh nhé!
Chúc tuần mới thật vui!
- thao: chào anh Ngô Đình Miên
Vào đọc CHIA VUI CÙNG YÊN BA và GIỌT NƯỚC MẮT...
- Hoà: Cầu nguyện GS Phạm Công Thiện, cao đăng Phật Quốc.
những tác phẩm...
- ngodinhmien: Cảm ơn HK!
- Hoài Khánh: Cuối tuần HK sang thăm anh...
- ngodinhmien: phuthuygaodua | 03/08,2011
Mới chỉ có bảy bông hồng
Tiên bà thì...
- ngodinhmien: Lê Trường Hưởng | 03/08,2011
Tiên ông già tóc bạc
Để tiên bà...
- ngodinhmien: catbien | 03/08,2011
...
Thăm anh, đọc bài thơ thật vui trong ngày 8.3...
- ngodinhmien: chanhrhum | 03/07,2011
Một chuyện cổ tích viết bằng thơ mà bất cứ...
- phuthuygaodua: Mới chỉ có bảy bông hồng
Tiên bà thì thầm
Tiên ông xao xuyến
- Lê Trường Hưởng: Tiên ông già tóc bạc
Để tiên bà tóc xanh
Vất vả phải gánh...
- catbien: Kết thành đoá hồng trắng dâng tặng tiên bà
Mỗi bông hồng làm trẻ...
- chanhrhum: Một chuyện cổ tích viết bằng thơ mà bất cứ người phụ nữ nào cũng...
- ngodinhmien: Hoài Khánh!
Cảm ơn bó hoa!
Chúc HK và những người phụ nữ của...
- ngodinhmien: Cảm ơn catbien đã đọc và khen hấp dẫn. Hi hi! Chuyện có thật được kể...
- Hoài Khánh: Hi hi...

- catbien: Câu chuyện vợ chồng Hai Gồ thật thú vị với những tình tiết hấp...
- ngodinhmien: @ TMD!
"Hai Gồ" là lớp trưởng của lớp mình mà. D cứ đưa qua bển...
- Dương Minh Thái: Đoạn cao trào về "Chuyện Vợ Chồng Hai Gồ" sau này rất ấn tượng... Bạn...
- ngodinhmien: @ Nguyễn Viết Hiện!
Viết về bạn bè chơi, không ngời được khen......
- Nguyễn Viết Hiện: Chuyện của bác hay lắm!
- ngodinhmien: @ hoalucbinh!
Tiết kiệm chữ cho hợp với phong cách sống dân Nam Bộ, ít...
- hoalucbinh: Cháu vừa gặp Thanh Chung và chuyển lời thăm hỏi của bác tới nàng. Khi...
- ngodinhmien: @ CHANHRHUM!
Chanh hỏi thì Miên xin thưa
Đẹp thì có đẹp, cày bừa...
Lịch
| « |
January 2012 |
» |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
31 |
|
|
|
|
Categories
liên kết cá nhân
Chung
Xuất bản tin
Trạng thái của blog
- Tổng số bài viết: 101
- Tổng số góp ý: 1206
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 12.969